Vợ cóc của hoàng tử ếch – Quyển 3 – Chương 7

Chương 7: Hóa ra anh ta đã đính hôn

“Tiểu Phương, không cần lo lắng cho tôi, tôi ở trong này thật sự tốt lắm. Trước kia Lí gia đối với tôi kỳ thực cũng không khác gì một cái nhà giam rất lớn, hiện tại thay đổi sang nhà giam này cũng có gì khác nhau đâu?” Cô nhẹ nhàng cong đuôi mắt mà cười nhưng có chút cười khổ.

Tiểu Phương ở một bên không ngừng lau nước mắt, cô cũng không muốn khóc nhưng vừa nghĩ tới tình trạng của Lí Ngôn Hi thì lại nhịn không được. Chỗ này sao có thể giống Lí gia. Lí gia cho dù không có ai để ý cô thì cô vẫn là nhị tiểu thư Lí gia, ăn dùng sẽ không thiếu. Ở trong này, ai biết bên trong có cái gì để ăn không? Có rượu, có cá, thịt sao?

“Tiểu Phương, đừng khóc,” Lí Ngôn Hi vươn tay, dùng ngón tay mình lau nước mắt cho Tiểu Phương. Nếu cô ấy còn khóc nữa thì cô cũng nhịn không được nên đành cố chớp đi nước mắt đang trào ra, cố nở nụ cười.

“Ân,” Tiểu Phương dùng sức gật đầu, hảo, cô không khóc, không khóc, còn khóc nữa thì thời gian thăm sẽ chẳng còn lại bao nhiêu.

“Tiểu Phương, sao cô lại có thể tới đây, bọn họ, đều tốt… Sao?” Lí Ngôn Hi dừng nói một chút, trong mắt che giấu bi thương. Bọn họ trong miệng cô là những người của Lí gia, đương nhiên còn có hắn.

“Ân, hảo, tiên sinh cùng phu nhân và đại tiểu thư đều tốt lắm. Bọn họ vẫn giống như trước đây,” Tiểu Phương càng nói càng khó chịu, “Nhị tiểu thư, tiên sinh thật sự quên cô rồi. Từ lần đó ông ấy không nhắc đến cô nữa. Đại tiểu thư hiện tại so với trước kia càng thêm có tiếng, nhưng hiện tại cả ngày cô ấy đều cau có.” Tiểu Phương dùng sức hình dung, chính là như thế không sai, “Về phần phu nhân, bà ấy vẫn chơi mạt chược, cùng các vị phu nhân uống trà, cả ngày đều thế.”

“Vậy là tốt rồi,” Lí Ngôn Hi cuối cùng cũng yên tâm. Bọn họ tốt là được, cái khác không quan trọng.

“Còn có một việc, nhị tiểu thư,” Tiểu Phương có chút nói không nên lời. Thấy Lí Ngôn Hi thế này đã đủ khổ rồi, cô thật không đành lòng. Hiện tại người ta đã quên cô ấy rồi, hai năm sau ai còn nhớ cô ấy nữa.

“Chuyện gì, nói đi?” Lí Ngôn Hi nhẹ thở dài. Không cần lo lắng cho cô, cô đã kinh qua nhiều chuyện, đả kích gì với cô mà nói thì cũng qua thôi.

“Nhị tiểu thư, Đường tiên sinh đính hôn rồi,” Tiểu Phương nhỏ giọng nói, kỳ thực cô không muốn nói, bởi vì cô biết Lí Ngôn Hi nghe xong nhất định sẽ thật thương tâm. Cô ấy vì Đường tiên sinh mà bỏ ra nhiều như vậy nhưng cuối cùng thì mọi người đều quên cô ấy, kể cả Đường Mặc Vũ cô ấy yêu nhất.

Lòng Lí Ngôn Hi đột nhiên co rút một chút, thậm chí ngay cả hô hấp cũng ngừng lại, giống như có một cây kim không ngừng đâm vào tim cô. Cái loại đau đớn khắc sâu trong lòng này khiến cô cả đời không quên nổi.

“Không sao, Tiểu Phương, tôi đã sớm cùng anh ta cắt đứt, anh ta muốn kết hôn với ai cũng không liên quan đến tôi.” Cô vẫn đang cười nhưng khóe mắt lại rơi xuống một giọt nước mắt xót xa. Nói không để ý là giả, không đau lòng cũng là giả. Cô thật sự muốn tìm chỗ nào không người mà khóc thành tiếng. Nhưng hiện tại hình như cô cũng chẳng thể có một chỗ như thế.

Tiểu Phương giữ lấy tay cô, lại phát hiện trên móng tay cô đều là đất, người cô cũng bốc ra mùi khó chịu. Rốt cuộc cô ấy ở đây phải làm gì a? Nhị tiểu thư sạch sẽ của cô sao lại biến thành bộ dáng này. Hiện tại cô ấy bẩn thỉu, làn da đen lại, mặt cũng bản, trên người lại có mùi khó ngửi.

“Nhị tiểu thư, Tiểu Phương chỉ có thể đến thăm cô lần này,” Tiểu Phương khổ sở nói, nếu có thể thì cô thật sự muốn đi xem tiểu thư của cô nhiều hơn, bởi vì cô ấy thật đáng thương, cũng không có người thân nào.

Nếu cả Tiểu Phương cũng không có thì cô còn ai chứ?

“Vì sao?” Lí Ngôn Hi nắm chặt tay Tiểu Phương, không hiểu vì sao cô ấy lại nói thế.

“Nhị tiểu thư, Tiểu Phương phải về quê. Em sẽ đi xem mắt, có thành hay không thì không biết nhưng em chắc sẽ không trở về đây nữa. Em sẽ tìm công việc ở đó, sau đó ở đó sống tiếp,” Tiểu Phương lại lau nước mắt.

“Như vậy thì tốt rồi, cô cũng nên có cuộc sống của riêng mình.” Lí Ngôn Hi vỗ bả vai Tiểu Phương, muốn cổ vũ cô ấy. Mặc kệ trong nhà là thế nào thì vẫn là nhà, lúc cô đơn, khóc sẽ có người quan tâm, chia sẻ, yêu thương mình.

“Ân,” Tiểu Phương gật đầu, nhị tiểu thư nói rất đúng, mình nên có cuộc sống riêng của mình, tối thiểu có thể ở bên người nhà.

“Đúng rồi,” Tiểu Phương cầm lấy một chút đồ đặt lên bàn, “Nhị tiểu thư, những thứ này đều là em mua cho cô. Cũng không nhiều đồ lắm nhưng toàn món cô thích ăn, còn có vài món quần áo. Về sau Tiểu Phương không ở bên cạnh, cô nhớ phải chăm sóc bản thân. Hai năm sau nếu cô không có chỗ để đi thì có thể tới tìm em. Nhà em vĩnh viễn hoan ngênh cô,” Tiểu Phương đem đồ trong tay đẩy qua. Những thứ này không đáng giá nhưng đều là tâm ý của cô.

“Cám ơn,” Lí Ngôn Hi hơi nghẹn lời. Kỳ thực cô cũng luyến tiếc cô ấy đi nhưng cô ấy phải về nhà, tìm kiếm cuộc sống của mình. Cô phải chúc phúc cho Tiểu Phương, đó mới là tốt nhất.

“Nhị tiểu thư,” Tiểu Phương lại kéo tay Lí Ngôn Hi, “Nhị tiểu thư, thẻ tín dụng của cô đã bị ngân hàng khóa, tiền này là tiền em giúp cô để lại, chờ lúc cô đi ra có thể đến ngân hàng lĩnh.” Tiểu Phương nhìn Lí Ngôn Hi một cách nghiêm túc, “Nhị tiểu thư, tiền này không nhiều lắm, nhưng cũng đủ để lúc ra ngoài cô có thể sống được một thời gian rất dài. Sau đó cô tìm một công việc là có thể tiếp tục.”

Lí Ngôn Hi nắm chặt tay Tiểu Phương, lắc đầu, “Tiểu Phương, tiền này cô cầm đi, tôi không cần,” lúc này ánh mắt cô đã ửng đỏ. Cô rất cảm động, trong hoàn cảnh này mà cô ấy còn nghĩ đến cô, thậm chí còn sắp xếp kế hoạch 2 năm sau cho cô. Sao cô có thể nhận tiền này chứ?

“Không cần, em có tiền. Tiên sinh cho em rất nhiều tiền, đủ để em về nhà,” Tiểu Phương cười thật ngốc, nhưng đây cũng là sự thật. “Nhị tiểu thư, em không gạt cô. Tiên sinh thật sự cho em rất nhiều, đủ để em về nhà làm vốn sống. Tiền này vốn là của cô, hơn nữa cô về sau so với em còn cần nó hơn. Lúc ra khỏi đây cô không có ai để nương tựa, lại không có thân nhân. Cô cũng không có khả năng về nhà của tiên sinh, cho nên tiền này là tiền cứu mạng của cô, em không thể cầm.”

“Tiểu Phương…” Lí Ngôn Hi còn muốn nói cái gì đó, nhưng cửa phòng lúc này mở ra: “Đã đến giờ, lần sau lại đến.”

Lí Ngôn Hi hơi hơi nhắm mắt, đem đồ ôm lấy, lần sau, làm gì có lần sau, Tiểu Phương sắp đi rồi.

“Nhị tiểu thư, cô bảo trọng, em phải đi rồi,” Tiểu Phương hướng Lí Ngôn Hi vẫy tay, nhìn cô bị dẫn vào. Cô tận lực không khóc, cũng không phải sinh ly tử biệt, không thể khóc

“Tiểu Phương, nghe tôi nói, đem tiền cất đi, coi như đó là đồ cưới tôi cho cô, được không?” Lí Ngôn Hi xoay người, dùng sức nói to với Tiểu Phương.

Vợ cóc của hoàng tử ếch – Hạ Nhiễm Tuyết – Hoàn

Bộ Vợ cóc của hoàng tử ếch Amber đọc lâu rồi nhưng mãi vẫn chưa hoàn. Bên Tuyệt Tình Cốc làm đến chương 6 cuốn 3 thì bỏ tới giờ. Vài bạn khác có làm tiếp trên Wattpad nhưng cũng chưa hoàn. Vậy nên mình quyết định làm tiếp vì cũng còn có chút nữa là hoàn rồi.

MỤC LỤC

Quyển 1   Quyển 2   Quyển 3 (Từ chương 1 – 6)

Quyển 3

Chương 7     Chương 8     Chương 9     Chương 10     Chương 11     Chương 12     Chương 13

Chương 14     Chương 15     Chương 16     Chương 17     Chương 18     Chương 19

Chương 20     Chương 21     Chương 22

Chương 23       Chương 24       Chương 25      Chương 26      Chương 27

Chương 28      Chương 29      Chương 30      Chương 31      Chương 32

Chương 33      Chương 34      Chương 35      Chương 36      Chương 37

Chương 38      Chương 39      Chương 40      Chương 41      Chương 42

Chương 43      Chương 44      Chương 45      Chương 46      Chương 47

Chương 48      Chương 49      Chương 50      Chương 51      Chương 52

Chương 53      Chương 54      Chương 55      Chương 56      Chương 57

Chương 58      Chương 59      Chương 60      Chương 61      Chương 62

Chương 63      Chương 64      Chương 65      Chương 66      Chương 67

                     Chương 68      Chương 69      Chương 70      Chương 71      Chương 72

Chương 73      Chương 74      Chương 75      Chương 76      Chương 77

      Chương 78      Chương 79      Chương 80      Chương 81      Chương 82

Chương 83      Chương 84      Chương 85      Chương 86      PN1

PN2      PN3      PN4

HOÀN

Nếu bạn thích truyện này thì hãy ủng hộ để Amber duy trì trang web nhé:

Thầy ơi! Em yêu anh

Thầy ơi! Em yêu anh là tác phẩm lãng mạn của Nhật Bản ra mắt vào đầu năm 2018. Amber đã rất thích tác phẩm này từ khi xem trailer.

Phim Nhật đặc điểm là hơi khó hiểu và tình tiết nhanh đến đáng kinh ngạc. Chính vì thế mà cảm xúc không được chú trọng lắm. Thế nhưng trong phim này, dường như mọi khoảng khắc đều được làm chậm lại để khán giả ngấm.

Thầy ơi em yêu anh
Thầy ơi em yêu anh

Nội dung phim không có gì mới hết, thậm chí còn được so sánh với kịch bản “Em gái mưa’ của Việt Nam. Đây là câu truyện về một cô học trò nhỏ yêu người thầy giáo dậy môn Lịch sử của mình. Hibiki nhìn thấy thầy Ito lần đầu trong buổi tựu trường năm đầu cấp ba. Ngay từ giây phút đầu tiên ấy cô bé ngây thơ đã bị sét đánh trúng đầu. Cứ như vậy Hibiki mang tấm lòng ngưỡng mộ với thầy giáo của mình mà trải qua quãng thời gian trung học.

Ito lúc đầu cũng không để ý lắm đến Hibiki nhưng dần dần hai người càng ngày càng tiếp xúc nhiều. Lần đầu tiên là Hibiki giúp bạn đưa thư tình cho Ito. Lần thứ hai là cô bé ném sách vào đầu anh thầy đang ngủ quên cả giờ dạy học. Rồi Ito còn giúp Hibiki làm bài tập toán khi cô bé đang đánh vật với đống bài tập sau giờ học. Mỗi một lần tiếp xúc đều khiến Hibiki rung động không thôi.

Thầy ơi em yêu anh
Thầy ơi em yêu anh

Cô bé đã mạnh dạn bày tỏ nhưng tất nhiên là bị từ chối. Thế nhưng chính Ito lại không thể kìm được lòng mà luôn dõi theo cô học trò nhỏ. Anh một mặt vẫn bảo vệ, lo lắng cho Hibiki, nhưng vẫn không ngừng giữ khoảng cách với cô bé.

Cuối cùng vào một ngày nắng đẹp, trong lễ hội của trường, Hibiki hóa trang thành cô dâu xinh đẹp và quyết định tỏ tình lần cuối với Ito trong ánh nắng chiều ấm áp. Rồi chuyện gì cần xảy ra đã xảy ra nhé! 🙂

Thầy ơi em yêu anh
Thầy ơi em yêu anh

Nhưng câu truyện tình của họ bị phát hiện. Và cũng phải mất rất nhiều dũng khí, nhiều thời gian và cả sự giúp đỡ, giác ngộ của đồng bào thì hai người mới được ở bên nhau.

Phim này hay, nhẹ nhàng và kết thúc có hậu. Diễn viên thì khỏi chê luôn. Cả diễn viên nam và nữ đều đẹp lung linh. Dù hơn nhau nhiều tuổi nhưng vì đóng vai thầy trò nên Toma Ikuta và Hirose vẫn rất ư là đẹp đôi. Mà cảnh quay cũng đẹp nữa chứ. Anh sáng trong từng khung hình đều ấm áp đến lạ. Nói chung là đáng xem!

How Starbucks saved my life

Starbucks đã cứu cuộc đời tôi như thế nào (How Starbucks saved my life) là cuốn sách bán chạy nhất của Micheal Gill và dựa trên cuộc đời có thật của ông này.

Chương 1        Chương 2        Chương 3        Chương 4        Chương 5

Chương 6        Chương 7        Chương 8        Chương 9        Chương 10

Nội dung cuốn sách nói về một Micheal Gill thành công và có quyền lực trong giới quảng cáo. Ông ta sống cả đời thuận lợi từ lúc sinh ra cho đến khi ông ta ở tuổi 50 thì đột nhiên bị đá khỏi công ty.

How starbucks saved my life
How starbucks saved my life

Từ một người có tất cả, Mike phải vật lộn với cuộc sống tài chính và cả cuộc sống tình cảm phức tạp của bản thân. Ở tuổi hơn 60, Mike phải đối mặt với viễn cảnh không đủ tiền nuôi sống bản thân và bị gia đình chối bỏ.

Mike may mắn tìm được một công việc tại một cửa hàng Starbucks và bắt đầu hành trình làm lại từ đầu từ vị trí thấp nhất. Trong suốt quá trình này, ông ta đã nhận ra nhiều bài học quí báu. Ông ta cũng ngẫm nghĩ lại về cuộc sống và cách tư duy trước đây cùng với những quan niệm cố hữu mà bản thân cần thay đổi.

Amber thích cuốn sách này vì nó khá thật và đề cập đến một vấn đề nhức nhối đó là tự do tài chính. Không cần biết một người làm chức vụ cao đến đâu, tài năng và học vấn đến đâu, nếu anh không tỉnh táo và tự hoạch định tương lai cho mình thì đến một ngày nào đó anh cũng sẽ phải ra đường như ai. Amber đọc cuốn này lần đầu tiên khi đang trong giai đoạn khủng hoảng nghề nghiệp. Và mặc dù tác giả viết đôi chỗ khá dài dòng thì về cơ bản bài học đọng lại cũng quá sâu sắc. Amber như thấy được tương lai của nhiều người trong Michael Gill.

Mike có được thứ dũng cảm mà ít ai có được đó là sự dũng cảm bỏ qua mặt mũi, chịu cúi đầu và chấp nhận làm những việc trước đây mình chưa bao giờ làm. Nhưng sự dũng cảm này lại đến từ những khủng hoảng và thất bại trong đời. Ông ta phải trải qua nhiều đau khổ và dằn vặt mới có được sự can đảm ấy. Thế mới nói kẻ nhìn xa mới là kẻ thành công. Bạn có thể tận hưởng cuộc sống hiện tại nhưng cũng nên chuẩn bị cho mọi khả năng trong tương lai. Và bạn chỉ thật sự an tâm khi bạn độc lập về mọi mặt, nhất là tài chính. Độc lập ở đây là sự độc lập khỏi gia đình, người thân, bạn bè và cả công việc. Độc lập ở đây có nghĩa là bạn có thể không cần những điều đó vẫn có thể sống đàng hoàng được.

Xin hết!

Starbucks đã cứu cuộc đời tôi như thế nào – Chương 4

Chương 4: Ở nơi tiền tuyến – sẵn sàng hay chưa?

“Hãy đề nỗi buồn của bạn ra đi, từ bỏ sự giằng xé, đi theo sự điên rồ và cất cánh … hãy cất cánh.”

THÁNG SÁU

Trong những tuần tiếp theo khi mà đang vội vã di chuyển qua ga Grand Central để bắt chuyến tàu đi tới phía Tây để lại tiếp tục bắt tàu điện ngầm đi đến cửa hàng ở Broadway, thỉnh thoảng tôi sẽ nhớ đến khoảng thời gian trước kia tôi đã có một đóng góp nho nhỏ để bảo tồn cái sân ga này.

Hai mươi lăm năm trước, tôi đã đứng ở Grand Central với Jackie Kennedy và bố tôi khi họ nói chuyện về kế hoạch cứu nhà ga khỏi bị hư hỏng. Tôi được gọi tham dự vì họ muốn thông qua tôi có được nguồn lực hỗ trợ từ JWT cho việc này – mà không phải tốn đồng nào.

“Đây là một không gian công cộng tuyệt vời nhất ở New York,” bố tôi vừa nói vừa hào hứng chỉ xung quanh ông. “Nó phải được bảo tồn.”

Khi bố tôi già đi, ông trở nên nhiệt tình hơn với việc bảo tồn cái thành phố mà ông yêu mến. Ông thích miêu tả mình như một “kiến trúc sư nửa mùa”, luôn tuyên bố rằng kiến trúc và các tòa nhà là tình yêu đầu của ông ấy mặc dù cái danh xưng ấy và cái cánh tự miêu tả bản thân như vậy đã từng khiến ông gặp rắc rối ở bữa tiệc của Andy Warhol. Viva, một trong những “cô người mẫu” nước ngoài xinh đẹp của Andy khi đó đã bước tới đám người đang vây quanh bố tôi trong bữa tiệc. Cô ấy rất cao và vô cùng xinh đẹp đến nỗi mọi người đều dừng nói chuyện. Với tư thái là trung tâm của sự chú ý, cô ấy bước đến chỗ bố tôi. (Andy thì ngồi trên sàn nhà dựa lưng vào tường và chẳng nói gì như mọi khi.)

“Anh làm nghề gì?” Sinh vật ngoại lai đó hỏi bố tôi.

“Tôi là một kiến trúc sư nửa mùa!” cha tôi đáp lại với cái giọng điệu hào hứng và tư thế tự tin điển hình mà ông thường thể hiện trước đám đông.

“Một con khỉ kiến trúc sư?” Cô ta hỏi lại.

Cả phòng phá ra cười vì lỗi lầm đáng yêu của cô ấy.

Nhưng bố tôi đúng thực sự là một con khỉ trong hội kiến trúc sư – leo trèo với năng lượng tràn đầy ở mỗi công trình kiến trúc mà ông thích trong khi nói tía lia với một niềm yêu thích dễ lây nhiễm về mỗi viên đá và hình chạm khắc của mỗi đường viền.

Lúc đó ông đứng điềm tĩnh trên bậc cầu thang nhìn ra toàn bộ sảnh lớn của sân ga với cánh tay dang rộng như yêu thương ôm trọn những thứ ông nhìn thấy.

“Chúng ta không thể để nơi đẹp đẽ thế này bị xâm phạm bởi những kẻ tham lam và cơ hội,” bố tôi nhấn mạnh với giọng trầm thấp có giai điệu như thể đang nói chuyện với đám đông mặc dù ở đó chỉ có mỗi Jackie và tôi. “Nó xứng đáng được … được sống như một ốc đảo mở xinh đẹp tại cái nơi đông đúc, ồn ã này… một món quà quí của sự chào đón đối với nhiều thế hệ người dân New York mai sau.”

Jackie đứng ở bên cạnh ông với đôi mắt trìu mến. Bố tôi là một nhà văn thành công, người mà bà ấy luôn muốn trở thành. Ngoài ra ông ấy cũng vui tính và là một bảo vật trong các sự kiện xã hội, những phẩm chất mà bà ấy ngưỡng mộ. Tôi không phải nói nhiều nhưng cũng đã có được lời hứa của những người đứng đầu JWT về việc trợ giúp chuyên môn cho dự án này. Jackie quả là một cái tên đầy sức hút với mọi người.

Tôi đã giúp tổ chức một chuyến tàu mà Jackie tham gia cùng với cánh báo chí tới Washington nơi mà Tòa án tối cao sẽ thông qua đạo luật bảo tồn những địa danh lịch sử. Theo sau đó là một buổi tiệc thanh lịch mà tôi đã mời nhiều người nổi tiếng. Không một ai từ chối lời mời đó cả.

Phó Tổng Thống Mondale và vợ, bà Joan, đã vui mừng chào đón Jackie khi bà bước xuống tàu. Chúng tôi tổ chức một buổi chiêu đãi cho bà ấy tại một căn phòng nhỏ xinh đẹp ở ga Washington Union – khách mời toàn thượng nghị sĩ, giới truyền thông và quan trọng nhất là vợ của một vài thẩm phán tại Tòa án tối cao.

(Khi tôi gặp Thẩm phán Potter Stewart ở một sự kiện của hội kín Đầu Lâu & Xương một vài tháng sau đó và cảm ơn ông ấy về quyết định tích cực về vấn đề các địa danh, ông đã nói, “Đừng cảm ơn tôi – cảm ơn vợ tôi ấy. Bà ấy bảo tôi là tôi đừng có mà chống lại Jackie!”)

Jackie đã hoàn thành tốt việc kết nối mọi người trong phòng và khuyến khích mỗi người bà nói chuyện bằng tài năng tuyệt vời.

Khi chúng tôi chứng kiến bà chăm chú nói chuyện với từng người khách trong phòng, cha tôi bình luận rằng, “Bà ấy có một món quà kỳ lạ trong việc kiểm soát hình tượng của chính mình. Bà ấy rất thông minh khi chỉ dùng hình tượng nổi tiếng cho một vài điều mà bà ấy tin tưởng. Rất may, New York là nơi bà ấy thực sự thấy có hứng thú.”

Sức mạnh thuyết phục của Jackie là quá rõ ràng. Bà ấy còn có thời gian nói vài lời với tôi vào cuối sự kiện.

“Michael, cậu đã giúp đỡ rất nhiều.”

Tôi nhướn người về phía trước để nghe bà nói – Jackie nói như thì thầm – và tôi thì bị bọc kín trong sự chú ý của bà. Bà ấy khiến tôi cảm thấy mình là người duy nhất trong phòng. Ngoài đời bà ấy đẹp hơn trên tivi nhiều. Bà ấy nhỏ bé, hoàn hảo, với đôi mắt to dường như có thể hút bạn vào. Bà ấy có một sự quyến rũ khó cưỡng khi nói chuyện trực tiếp mà không máy ghi hình nào có thể nắm bắt được.

“Cảm ơn bà,” tôi nói, lưỡi líu lại như biết bao nhà chính trị chuyên nghiệp và chuyên gia truyền thông khác trước mặc bà ấy.

Jackie rời đi ngay sau đó và bằng cách nào đó bà không khiến tôi cảm thấy sự cấp bách cần phải gặp và cảm ơn những người khác của bà giảm đi chút nào. Thật là trái ngược. Tôi cảm thấy lâng lâng vì những giây phút ngắn ngủi bên cạnh bà và sẽ không bao giờ quên chúng.

Nhưng giờ khi nhìn vào cái đồng hồ mới, to lớn và lấp lánh trên quầy thông tin, và quang cảnh rực rỡ, sáng loáng của Grand Central được khôi phục lại nhờ nỗ lực của Jackie, và nhận ra tôi sẽ bị muộn làm mất. Tôi chạy vội đến bắt chuyến tàu thường vì biết chắc tàu nhanh sẽ chẳng đến lúc người ta cần.

May thay tàu đến nhanh và tôi đến đường số Chín mươi sáu trong sự lắc lư và tiếng bánh xe lửa nghiến ken két trên đường ray.

Người tôi rịn mồ hôi trong cái nắng tháng sáu khi tôi vội đi đến cửa hàng của mình ở số Chín mươi ba và Broadway. Mùa hè có vẻ đến New York sớm, hay là do cảm giác lo lắng nhè nhẹ của tôi khiến nhiệt độ từ vỉa hè của thành phố tăng lên?

Tôi bước nhanh vào cửa hàng, gật đầu chào các Cộng sự mới với một nụ cười nhăn nhó rồi nhanh chóng đi đến phía sau để mặc tạp dề vào. Tôi chấm công ca làm lúc 2 giờ chiều và nhận thấy chỉ vài phút nữa thôi là tôi đã đến muộn. Tôi thực sự rùng mình với ý nghĩ đó. Làm sao mà tôi lại đi tốn thời gian quí báu ở Grand Central ngẫm nghĩ về quá khứ và suýt nữa thì phá hỏng tương lai chứ? Tôi rất giận bản thân mình và tôi hứa rằng lần sau tôi sẽ phải đi sớm hơn.

Ít nghĩ về quá khứ, hãy nghĩ nhiều hơn đến tương lai! Tôi lặp lại điều này với bản thân giống như một câu thần chú và tôi muốn tin tưởng.

Tôi thấy Crystal nhìn lên từ máy tính và nhận ra có lẽ mình đã nói ra mồm câu đó. Tôi bị điên mất thôi! May mắn là cô ấy nhanh chóng quay lại với cái màn hình máy tính.

Lo lắng muốn chứng minh bản thân nhưng tôi vẫn ngần ngại khi phải ra ngoài quầy với các Cộng sự khác. Đã hơn hai tháng và tôi vẫn chưa phải làm nhiệm vụ ở quầy thanh toán. Ý nghĩ đó làm tôi khiếp sợ. Vì thế tôi chỉ đứng ở đó, nơi trung lập ngay ở văn phòng của Crystal và hy vọng được giao thêm công việc cọ rửa vào hôm nay. Tôi hy vọng có thêm một ngày tránh được cái quầy thanh toán đáng ghét đó. Nhưng Crystal dường như chẳng để ý đến tôi, cô ấy đang tập trung vào cái máy tính.

Mái tóc lúc nào cũng đẹp tuyệt của cô ấy rơi trên đầu vai và cô ấy đeo trang sức bằng vàng đắt tiền ở cả hai tay. Tôi đứng đằng sau lưng và cố gắng lôi kéo sự chú ý của cô ấy. Crystal có một khả tập trung hiếm có mặc cho có người đang ở trong văn phòng bé nhỏ đó. Qua vai cô ấy tôi có thể thấy cô ấy đang chuẩn bị một bài thuyết trình.

Tôi không thể cưỡng lại việc muốn giúp đỡ.

“Trước kia tôi đã chuẩn bị rất nhiều bài thuyết trình đấy,” tôi nói với cô ấy. “Có lẽ tôi có thể giúp cô.”

Cô ấy quay lại với biểu cảm cáu kỉnh. Tôi nhận ra rằng với cô ấy tôi là một sự can thiệp không mong muốn trong ngày hôm nay. Có lẽ những lần trước cô ấy đã tử tế với tôi khi tìm cho tôi việc gì đó cần có người hoàn thành để tôi làm. Nhưng rõ ràng là cô ấy đã mất kiên nhẫn và không còn thời gian cho tôi.

“Mike, có lẽ đã đến lúc anh ra ngoài quầy và thử làm vị trí thanh toán nhỉ?”

Miệng tôi há hốc. Không! Đó không phải là phản ứng tôi muốn khi đề nghị giúp đỡ công việc cô ấy đang làm.

“Anh đã thực hành chương trình mô phỏng rồi đúng không?” Crystal tiếp tục. Tôi đúng là đã được học về máy tính nhưng tôi chắc chắn là nó chả giống bất kỳ kinh nghiệm thực tế nào của việc xử lý hàng trăm đô la một lúc trong khi phải gọi to tên đồ uống và cố gắng giao tiếp bằng mắt với khách hàng.

“Đúng vậy…,” tôi do dự nói.

“Tốt.”

“Nhưng Crystal, nói thật, có thể tôi sẽ giúp được cô với bài thuyết trình đó chăng?” tôi gần như là cầu xin được làm một cái gì đó tôi biết làm hơn là bị đưa đi làm cái thứ tôi cảm thấy tôi chắc chắn sẽ chẳng làm nổi.

“Giúp thế nào?” Cô ấy lần nữa lại trở nên cáu kỉnh. “Bài thuyết trình này là về cửa hàng và đánh giá đối với các Cộng sự và việc họ đang làm ăn như thế nào. Thông tin về mức tiêu thụ các loại bánh, cà phê và hạt cà phê, và làm thế nào để quản lý được không gian cửa hàng … chẳng phải những thứ anh biết.”

Cô ấy đang mỉa mai tôi, một điều cô ấy hiếm khi làm. Rồi cô ấy quay trở lại với cái máy tính và rõ ràng là đang cố đuổi tôi đi.

Đến nước này thì tôi không thể để bản thân bị đuổi đi. Tôi sẽ làm mọi thứ để không phải đi ra quầy thu ngân. “Cô đã nghe về KISS chưa?”

“Chưa.” Cô ấy không nhìn tôi và tiếp tục tập trung vào máy tính. “Cái đó thì liên quan quái gì đến thứ mà tôi đang làm chứ? Mike, việc này rất khó, tôi không có …”

“KISS là một thực tế đã qua nghiên cứu về các bài thuyết trình…”

Cô ấy quay người lại. Cái từ “nghiên cứu” luôn kéo được sự chú ý của khách hàng và lần này nó cũng ảnh hưởng tới Crystal. Bất kỳ ý kiến nào cũng đều trở nên thú vị hơn nếu bạn biết nó được hỗ trợ bởi một nghiên cứu khoa học nào đó. Nhưng tôi nhận ra là tôi không muốn trở nên kiêu ngạo với Crystal như những khách hàng trước đây.

“Thật ra thì cũng chẳng có gì to tát,” tôi nói. “KISS nghĩ là ‘Làm đơn giản thôi, đồ ngốc.’ Nghiên cứu cho thấy những bài thuyết trình tốt nhất thường ngắn và đơn giản. Đã bao giờ cô mong muốn một bài thuyết trình dài hơnphức tạp hơn chưa?”

Crystal bật cười.

Phù. Tôi cũng nhận ra được từ kinh nghiệm trước đây rằng nếu khách hàng cười thì tức là khả năng cao họ sẽ thích ý tưởng của bạn. Thỉnh thoảng tôi phải làm mọi cách để có được tiếng cười đó. Có một lần, trong một chiến dịch kinh doanh mới của Sprint, tôi đã có một bước tiếp cận táo bạo. Chúng tôi là đơn vị cuối cùng thuyết trình trong số tám công ty quảng cáo mà họ liên hệ. Tôi biết là họ sẽ mệt. Chúng tôi được hẹn đến lúc ba giờ chiều. Đúng giờ buồn ngủ. Vào thời điểm đó, về mặt sinh học, con người chẳng sẵn sàng cho bất kỳ bài thuyết trình nào chứ đừng nói đến chuyện muốn một họ phải đặt niềm tin vào bạn – một công ty mới – cho chiến dịch quảng cáo hàng triệu đô la của họ. Trong yêu cầu đối với đề xuất, Sprint đã hỏi một câu “Các anh sẽ làm gì nếu ai đó mắc lỗi trong dự án của chúng tôi?”

Chính câu hỏi này đã cho tôi một ý tưởng.

Để bắt đầu bài thuyết trình, tôi nói “Chúng tôi đã trả lời từng câu trong ba mươi ba câu hỏi trong yêu cầu đề xuất của quý vị một cách chi tiết. Chúng tôi sẽ gửi những câu trả lời này để quý vị có thể nghiền ngẫm trong vài ngày tới. Chúng tôi biết mình là công ty trình bày cuối cùng. Và có lẽ các vị đã nghe quá nhiều lời hứa rồi. Vì thế chúng tôi sẽ chỉ đơn giản trả lời vài câu hỏi quan trọng. Chúng tôi sẽ không hứa bất kỳ điều gì. Trong vài phút nữa, chúng tôi sẽ mô tả chính xác những gì sẽ làm để giải quyết vấn đề của các anh.Chúng tôi sẽ trình bày những ý tưởng quảng cáo thực thụ, đã được kiểm chứng trong các nhóm nhỏ và sẵn sàng để đưa vào thực hiện. Chúng tôi sẽ trình bày một kế hoạch truyền thông thực tế có thể giúp tiết kiệm tiền cho các anh”. Tôi dừng lại để nâng cao ảnh hưởng của những gì mình vừa nói. “Nhưng trước tiên chúng tôi muốn trả lời một trong những câu hỏi quan trọng nhất trong bản yêu cầu đề xuất của quý vị: Chúng tôi sẽ làm gì nếu có ai đó mắc lỗi trong dự án của các anh? Câu trả lời của chúng tôi là: Tối hôm qua giám đốc điều hành dự án, Harry Smink, người cũng có mặt ở đây lúc này, đã viết sai tên các anh trong một trong những tài liệu mà chúng tôi gửi đi. Và đây là những gì anh nhận được, Harry.”

Lúc đó tôi lôi ra một khẩu súng ngắn thật sự, không có đạn và bắn anh ta. Viên giám đốc giả vờ ngã xuống. Khách hàng ở đó vô cùng kinh ngạc. Sau đó họ như tỉnh ra và bắt đầu cười to. Kết quả là họ đã rất chăm chú, thậm chí còn sợ bỏ lỡ thứ gì đó trong bài thuyết trình của chúng tôi. Tất nhiên chúng tôi đã giành được đơn hàng đó.

Cười là tốt và tôi rất mừng là bây giờ Crystal cũng đang cười.

“Thế tôi dùng KISS thế nào bây giờ?” cô ấy nói. Cô ấy luôn nhanh chóng nhận ra những cơ hội có thể giúp mình.

Tôi biết mình không có nhiều thời gian.

“Cô có thể thử công thứ ba chữ P”.

Cô ấy nhìn tôi một cách khích lệ như thể đang nói: Tiếp tục đi!

“Con người. Sản phẩm. Lợi ích. Cô có thể nói về những nhân viên cô mới tuyển; về phần sản phẩm thì có thể là việc bán các loại bánh và cà phê; còn lợi ích sẽ là tổng hợp cuối cùng của ba điều trên.”

“Còn cả địa điểm nữa chứ,” Crystal nói, đứng lên để đập tay ăn mừng với tôi. Tôi cũng đáp trả một cách khó khăn và vụng về. Ở JWT chúng tôi chả bao giờ đập tay ăn mừng cả.

Cô ấy quay lại với màn hình máy tính.

“Địa điểm ư?” tôi hỏi.

“Cửa hàng … Chúng ta đã thực hiện vài công tác lau chùi ở đây, và như anh biết đó Mike … tôi cũng muốn nhấn mạnh cả việc đó nữa.”

Biết là ngốc nghếch nhưng tôi không thể ngừng tranh cãi với cô ấy. Chuyên môn của tôi lại khiến tôi có ý nghĩ khác. “Nhưng nghiên cứu chỉ ra rằng con người chỉ có thể nhớ được ba thứ. Sau hàng trăm năm, có ai nhớ được hơn ba trong mười điều răn đâu.”

“Anh nói gì?” Crystal không để ý lắng nghe cho lắm. Tôi thấy thật may mắn và quyết định im lặng. Nhưng sau khi đã đưa ra một lời đề nghị, tôi không thể đừng được việc nói ra điều tiếp theo.

“Những bài phát biểu hay bắt đầu với một hình ảnh hoặc đề nghị độc đáo … thứ gì đó mà người nghe sẽ không bao giờ quên.”

Tôi nhớ về một dự án đổi tên một hãng hàng không mà tôi từng làm. Chẳng có ai trong ban quản lý của hãng Allegheny Airlines muốn đổi tên công ty. Đó là một sự thay đổi tốn kém và con người, ngược lại với những truyền thuyết, không thích bất kỳ sự thay đổi nào. Nhưng tôi ghét cái tên Allegheny và hầu hết các khách hàng cũng vậy. Họ thậm chí còn gọi hãng là Agony Airlines (hãng hàng không hợm hĩnh). Khi tôi gặp chủ tịch của hãng, một người ở tuổi bẩy mươi và yếu ớt thì câu đầu tiên ông ấy hỏi là “Anh thấy cái tên hãng hàng không của tôi như thế nào?”

“Nếu tôi ở vị trí trung lập thì tôi nghĩ ông có thể giữ cái tên cũ, nhưng tôi nghĩ đây không phải là một trò đùa”

Lúc đầu ông ấy không thích ý tưởng này. Sau đó chúng tôi thực hiện một nghiên cứu về việc thay đổi quan niệm về tên và thấy rằng người ta sẵn sàng chờ ba mươi phút để chọn hãng USAir, một hãng chưa ra đời thay vì chọn Allegheny.

Vào một buổi sáng, tôi được yêu cầu trình bày ý tưởng đổi tên cho Chủ tịch và năm trăm nhân viên bán hàng trên toàn quốc của hãng. Đó là một căn phòng lớn, trống trải và là một phần của khu nhà chứa máy bay. Đó thực sự không phải chỗ tốt để nói chuyện.

Tôi bắt đầu với nghiên cứu đã làm. Mọi người đều yên lặng. Tôi có thể cảm thấy mọi người trong phòng vẫn chưa tin điều này.

Nhưng tối hôm trước tôi đã có mua vài đạo cụ. Một cây gậy và một quả bóng chày. Tôi thực ra chưa bao giờ thích bóng chày và đã chơi rất tệ khi còn ở trung học. Đây không phải là một quyết định hợp lý nhưng tôi biết mình phải làm gì đó để đánh thức đám đông này. Họ bị đóng đinh trong lối mòn cũ và thích duy trì hiện trạng.

Tôi lấy cái gậy và nói “Việc đổi tên này sẽ giúp chúng ta đánh bật đối thủ cạnh tranh ra khỏi vòng chiến”.

Tôi tung quả bóng lên và cố gắng đánh một cú thật dài và cao. Mặc dù rất khẩn trương nhưng tôi đã đánh một cú rất mạnh, sượt qua đầu vị chủ tịch. Ông ta ngồi ở hàng đầu tiên của dãy ghế đầy các nhân viên bán hàng của hãng, trải dài đến hàng trăm mét. Lúc đó ông ta trượt khỏi ghế xuống sàn. Quả bóng lao vút đến tận đầu kia của căn phòng và tạo ra một tiếng vang lớn khi nó đập trúng bức tường kim loại.

Trong một khoảnh khắc, mọi thứ tĩnh lặng rồi sau đó cả đội bán hàng đều reo hò đến nhức óc. Tôi đã nghĩ có lẽ họ vui mừng vì được nhìn thấy vị chủ tịch suýt thì bị đánh vào đầu (ông ta không được mọi người ưa). Có lẽ họ quá mệt với việc để thua trong cạnh tranh hết năm này đến năm khác và tôi đã khơi dậy tinh thần hiếu chiến của họ. Dù là điều gì thì quả bóng bay đập vào bức tường phía xa đã làm dậy sóng cảm xúc của cả căn phòng.

Họ đã sẵn sàng để tiến về phía trước.

Và chúng tôi thành công bán được cái tên.

Nhưng rõ ràng chúng tôi không thể làm được điều đó nếu không có quả bóng chày và cây gậy.

“Trước khi cô thực hiện bài thuyết trình bốn chữ P của mình,” tôi nói với Crystal, nhấn mạnh số “bốn” theo ý cô ấy, “liệu có đạo cụ nào mà cô có thể dùng … để họ có thể hiểu được cô là ai? Một thứ gì đó để lại ấn tượng. Nên nhớ rằng khán giả của cô sẽ nghe rất nhiều bài thuyết trình của nhiều cửa hàng.”

Cô ấy nhìn tôi.

Rồi tôi nhìn thấy trong đôi mắt tuyệt đẹp đó lóe lên ý tưởng.

“Thế này thì sao: tôi vẫn giữ một cân cà phê mà tôi từng xay từ bẩy năm trước. Tôi để nó ở nhà như một vật.”

“Vật gì?” tôi hỏi.

“Thì chỉ là một vật để nhớ. Nó rất có ý nghĩa với tôi.”

“Tại sao?”

“Tôi cũng không biết. Có lẽ vì nó là một phần của việc tôi gia nhập Starbucks và cuộc đời tôi rẽ sang hướng khác. Vì vậy tôi đã giữ nó lại. Một cân cà phê Verona đó có ý nghĩa rất lớn với tôi.”

“Tuyệt vời.”

Tôi biết rằng tình yêu của Crystal với cân cà phê đầu tiên cô ấy xay đó sẽ truyền cảm hứng cho khán giả của cô ấy. Nhưng khán giả của cô ấy là ai?

“Cô sẽ trình bày trước những ai?”

“Rất nhiều quản lý quận và những quản lý cửa hàng khác.”

“Hoàn hảo. Hãy bắt đầu bài thuyết trình bằng việc cầm lấy cân cà phê đó và đợi đến khi họ yên lặng. Rồi cô có thể kể cho họ việc nó đã biến đổi cuộc đời cô như thế nào.”

“Nhất trí,” Crystal nói và quay lại với cái máy tính. “Giờ anh hãy ra khu vực quầy thanh toán đi Mike. Joann ở ngoài đó … Cô ấy rất nhẫn nại. Hãy để cô ấy giúp anh làm quen.”

Khỉ thật! Sau tất cả những nỗ lực tránh xa cái quầy thanh toán đó bằng cách giúp Crystal với bài thuyết trình của cô ấy, việc mà tôi khá rành thì tôi vẫn bị buộc phải làm cái công việc liên quan đến tiền đó. Mà tôi biết trước là thể nào tôi cũng làm hỏng.

Tôi lê bước ra phía trước cửa hàng. Rất may lúc đó là thời gian buổi chiều vắng vẻ sau bữa trưa và trước khi bọn trẻ xếp hàng dài để gọi món Frappuchinos.

Có ba máy thanh toán ở sau quầy. Bianca đang đứng ở cái gần với tủ bánh nhất, ở giữa có một cái trống và Joann đang ở cái máy gần quầy lấy đồ uống. Tôi đi qua Bianca để tới cái máy ở giữa.

“Chào Mike,” cô ấy nói.

Lúc đó chẳng có khách nào cả.

Tôi dừng lại, háo hức nắm bắt mọi thời khắc tránh xa cái máy đó.

“Chào Bianca. Cô khỏe không?”

“Tôi ổn.” Bianca có một khuôn mặt nhỏ bé ngọt ngào. Giọng cô ấy rất nhẹ đến nỗi tôi khó lắm mới nghe thấy.

Tôi bước đến chỗ cái máy của mình.

“À Mike đây rồi.”

Joann là một người phụ nữ phốp pháp và thoải mái. Cô ấy lớn tuổi hơn hầu hết các Cộng Sự khác. Cô ấy di chuyển cũng chậm hơn những người khác. Tôi có thể nghe thấy tiếng cô ấy thở khi đến gần tôi, nghe có vẻ không ổn.

“Cô ổn chứ?”

“Ổn mà,” cô ấy nói. “Tôi chỉ thở hơi mạnh chút.”

“Chỉ cần nhấn mạnh lên con số trên màn hình của anh,” cô ấy nói, “rồi kéo ngăn kéo đựng tiền ra và mang nó tới phía sau cửa hàng. Có một cái máy sẽ cân và xác nhận số tiền mặt – trong máy của anh sẽ có 150 đô la. Sau đó mang ngăn kéo lại đây.”

Một cái máy sẽ cân và đếm số tiền! Trái tim tôi nhẹ hẫng vui sướng. Tôi chưa bao giờ biết điều đó. Suýt nữa thì tôi đã khóc vì thấy biết ơn. Đếm tiền xu và tiền giấy có thể khiến tôi mất hàng giờ và tôi chắc chắn sẽ cộng sai. Tôi luôn như thế.

Tôi nắm lấy cái ngăn kéo và đi về phía sau cửa hàng nơi Crystal vẫn đang vùi đầu vào bài thuyết trình nhưng cô ấy nhìn lên và nở nụ cười khi thấy tôi.

“Có một cái máy cân tiền,” Crystal nói và chỉ vào một cái màn hình nhỏ. “Để tiền xu và tiền giấy của anh lên đó và đảm bảo là con số cuối cùng đúng 150 đô la. Anh sẽ phải chịu trách nhiệm cho bất kỳ số tiền thừa hoặc thiếu nào. Và vào cuối mỗi ca, anh không được phép để thừa hoặc thiếu 5 đô la.”

“Nghe có vẻ ổn,” tôi nói mà không nhận ra rằng khi bạn phải xử lý cả ngàn đô thì rất dễ để bị thừa hoặc thiếu vài đô.

Tôi bắt đầu đặt tiền giấy lên cái máy. Nó có kích thước bằng một cuốn sách bìa cứng lớn. Nó có một cái ngăn kim loại ở trên cùng để đặt tiền giấy. Còn tiền xu thì đã được để sẵn trong những ngăn nhỏ trong ngăn kéo và bạn chỉ cần lấy chúng ra rồi cái máy thần kỳ sẽ cân chính xác số tiền. Ví dụ, nếu bạn để một nắm tiền giấy vào thì một cái cửa sổ nhỏ sẽ hiện ra dòng chữ: 85 đô la. Hoặc nếu bạn đặt một ngăn tiền xu nhỏ lấy từ ngăn kéo của bạn lên thì cái máy sẽ đọc được: 0.50 đô la. Cái máy tiếp tục cộng các con số và cuối cùng nó hiện con số tổng đếm và cân được ở một màn hình nhỏ bên dưới ngăn đựng tiền. Tôi chả phải làm phép tình cộng hoặc trừ nào! Và bằng cách đếm và cân số tiền giấy và tiền xu, cái máy đã biến một công việc có thể vô cùng tốn thời gian và sức lao động thành một vấn đề được thực hiện trong một hai phút. Đối với tôi, vào ngày đầu tiên đứng quầy thì cái máy đếm tiền đó đúng là một điều kỳ diệu. Số tiền đếm được rất chính xác, và tôi trở lại quầy một cách tự tin hơn.

“Này Mike,” Crystal gọi với theo tôi.

Tôi dừng lại và quay đầu.

“Bài thuyết trình trông có vẻ tốt lắm. Nhưng tôi phải làm gì với phần kết bây giờ?” Tôi cảm thấy hài lòng khi cô ấy hỏi lời khuyên của tôi, về bất kỳ thứ gì. Bởi vì đó là lần đầu tiên chuyện đó xảy ra giữa Crystal và tôi.

Tôi bước trở lại, vẫn cầm cái ngăn kéo. Tôi dừng lại và đặt cái ngăn kéo xuống bàn.

“Đừng bao giờ để tiền rời khỏi tay anh. Đây là lời khuyên dành cho anh đấy,” Crystal nói với giọng nghiêm túc nhất của cô ấy.

Tôi lại cầm cái ngăn lên.

“Phần kết tốt nhất là tóm tắt lại những gì cô đã nói, Crystal. Một bản tóm tắt nhanh. Tôi vừa mới hướng dẫn cho cô công thức ba chữ P -”

“Bốn chữ P chứ? … Chúng ta đã thêm Địa điểm cùng với Con Người, Sản phẩm và Lợi ích rồi mà.”

“Được.”Tôi cười thầm. Cô ấy đã nắm được mấu chốt và cố ấy nói “Chúng ta”, một dấu hiệu tốt đối với tôi. “Vậy hãy dành một trang cho công thức bốn chữ P rồi một dấu bằng và dòng chữ ‘Thành công của Starbucks'”.

“Thế nghe có vẻ hơi vô cảm,” Crystal nói. Giờ thì cô ấy thành chuyên gia rồi. Tôi rất quen với điều này. Hầu hết các khách hàng quảng cáo cần khoảng 10 phút để nhận ra là họ biết nhiều hơn bạn. Nhưng tôi phải thừa nhận là cô ấy đã nói trúng vấn đề. Starbucks không phải là IBM. Chúng tôi đang bán những ly cà phê tràn đầy tình yêu, một trải nghiệm đầy cảm xúc tích cực chứ không phải những cái máy với sự chuyên nghiệp mang tính khách quan.

“Vậy tất cả những thứ đó bằng với cái gì?” tôi hỏi, có lẽ hơi bảo thủ một chút. Tôi vẫn cố tóm lấy những di tích còn lại của một nhân viên tập đoàn lớn luôn biết anh ta đang làm gì. Ít nhất trong lĩnh vực này tôi vẫn thấy cần phải khoe khoang chút.

Crystal nghĩ một chút rồi đề xuất, “Hay là chúng ta đưa ra công thức bốn chữ P rồi dấu bằng và dòng chữ ‘Trải nghiệm tuyệt vời cho Khách hàng của chúng ta'”.

“Được đấy,” tôi nói và dợm bước rời đi.

“Nhưng anh không thích nó,” Crystal gọi theo.

“Thực ra với tôi thì điều đặc biệt về Starbucks là trải nghiệm tuyệt vời dành cho các Cộng sự. Mỗi một công ty thuộc top 500 của Fortune đều nói họ đặt khách hàng lên trên hết. Chỉ có Starbucks là đặt các Cộng sự của họ lên trên hết.”

Crystal nhìn tôi. Lông mày màu nâu của cô ấy trau lại khi cô ấy nghĩ. Và rồi khuôn mặt cô ấy dãn ra.

“Được, thế này thì sao: chúng ta có dấu bằng và dòng chữ ‘Trải nghiệm tuyệt vời cho các Cộng sự và Khách hàng'”.

“Tốt,” tôi nói và bước đến quầy thanh toán. Tôi thấy mình cần phải rời khỏi đó khi mà mọi thứ đang tốt lên. Crystal hiểu vấn đề; cô ấy đang hoàn tất một bài thuyết trình chuyên nghiệp. Tôi vẫn ghi nhớ câu thần chú của mình: nghĩ ít về quá khứ, nghĩ nhiều về tương lai. Bất kỳ điều gì tôi nói thêm cũng chỉ cho thấy tôi muốn sống nhiều hơn trong quá khứ thay vì tạo dựng một tương lai. Quầy thanh toán đang đợi và tôi cảm thấy Joann sẽ giúp tôi học được việc này.

Thế mà giữa đường tôi lại dừng lại, cái ngăn kéo đựng tiền vẫn ở trên tay.

“Thế này thì sao”, tôi không thể ngăn bản thân mình nói “‘Trải nghiệm tốt nhất cho các Cộng sự và Khách hàng.’ Như thế nghe êm tai hơn.”

” Êm tai … là sao?” Crystal nhăn mày.

“Hay là quên đi,” tôi tiếp tục bước đi.

“Không,” Crystal nói. “Hãy nhớ tôi đã nói về nhân phẩm và sự tôn trọng. Nếu anh có gì muốn nói thì nói đi.” Giọng cô ấy có vẻ không được tích cực cho lắm.

Tôi cảm thấy tôi bị kẹt một chân vào đó rồi. Thật là một tên ngốc đáng ghét, tôi tự nói với bản thân như vậy khi quay mặt lại phía cô ấy.

“Êm tai đơn giản là nghe hay,” tôi nói với cô ấy với giọng áy náy. ” ‘Tốt nhất’ là một từ đồng âm với ‘khách hàng’ … điều này khiến cho câu kết luận nghe có vẻ đáng nhớ hơn. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng con người nhớ các vần điệu dễ dàng hơn. Và điều đó cũng có nghĩa là sau khi xem một loạt các bài thuyết trình, có nhiều khả năng họ sẽ nhớ bài của cô.”

“Được đó,” Crystal nói. “Trải nghiệm tốt nhất cho các Cộng sự và Khách hàng”.

“Và khi cô sử dụng giới từ ‘the’ ở đằng trước như vậy thì nó ám chỉ một lợi ích ưu việt.”

Lạy chúa là Crystal chẳng thèm nghe câu cuối đó.

“Anh đi ra khu thanh toán đi Mike,” cô ấy khích lệ tôi. “Và đảm bảo anh giao tiếp bằng mắt và trò chuyện với khách hàng nhé.”

Tôi đã nghe những lời này trong các video đào tạo, nhưng tôi quan tâm hơn đến việc xử lý tiền nong để làm sao tôi không tự biến mình thành một thằng ngốc.

Rất không may, giờ bọn trẻ đã tan học và bắt đầu đến.

Dù vậy, Joann đã đi về phía tôi và giúp tôi đút cái ngăn kéo lại chỗ cũ.

“Máy tính sẽ cho anh biết chính xác số tiền anh cần trả lại và điều tuyệt vời là khách hàng cũng sẽ nhìn thấy số tiền họ được trả lại nên họ sẽ biết nếu anh tính sai. Anh sẽ ổn thôi, Mike.”

“Nhưng tôi tệ lắm khi xử lý tiền bạc.”

“Hai gã chồng cũ của tôi cũng thế. Nhưng hãy cứ để cái máy làm việc đó.”

Tôi mỉm cười. Thật là một câu thần chú hay.

Một đứa bé bước đến trước mặt tôi để gọi đồ. Thằng bé không hề biết là nó đang đứng trước một gã chưa từng làm việc này trước đây.

“Cháu muốn một cốc Mocha lớn”.

“Mocha cỡ lớn”, tôi gọi to tên đồ uống cho Tawana, một cô gái hấp dẫn nhưng đầy tinh thần chiến đấu đang ở khu pha chế.

“Mocha cỡ lớn,” Tawana hét trả lời để xác nhận cô ấy đã nhớ đúng tên đồ uống.

Tôi nhìn đến màn hình thanh toán. Trên đó có ghi các từ “Lớn” và “Mocha” giống như mô hình đào tạo máy tính. Tôi chạm vào những chữ này bằng đầu ngón tay và cái máy cho ra chính xác giá tiền phải trả.

Đứa bé đưa cho tôi năm đô la.

Trên màn hình có lựa chọn cho năm đô la.

Tôi chạm vào đó.

Ngăn kéo tiền liền mở ra, và màn hình hiển thị đúng số tiền mà tôi cần trả lại cho cậu bé: “2,73 đô”. Tôi lấy tiền lẻ từ ngăn kéo. Đứa bé nhận lấy tiền, đếm và đút vào túi sau đó đi về phía quầy pha chế để đợi lấy đồ uống.

Màn hình của tôi, với kích cỡ của một cái tivi nhỏ khi đó hiển thị dòng chữ: “Đóng ngăn kéo lại.”

Tôi đóng ngăn kéo lại.

Này, tôi tự nói với mình, mày có thể làm việc này!

Rồi khách hàng tiếp theo bước đến. Đó là một cô gái trẻ và đang mang thai.

“Một cốc cà phê Decaf lớn,” cô ấy nói.

Tôi nhấn lên lựa chọn ‘lớn’, nhận tiền, trả tiền thừa, đóng quầy và quay ra để lấy cà phê cho cô ấy. Cà phê mới pha ở ngay phía sau tôi cùng với những chiếc cốc rỗng. Tôi lấy một cốc cà phê và đưa cho cô ấy.

Cô ấy đáp lại bằng một nụ cười thật tươi như thể chúng tôi là bạn bè. “Tên tôi là Rachel. Tôi lại đang mang thai một đứa con nữa. Thế nên tôi cần Decaf để giữ cho mình tỉnh táo. Thật không thể đợi để quay lại với công việc vất vả.”

Tôi đột nhiên nhận ra rằng mọi người có lẽ đang đối xử với tôi theo cái cách mà họ được yêu cầu khi đối xử với các nhân viên phục vụ nhà hàng … Họ muốn tương tác với những người đang phục vụ họ những thứ tốt.

Buổi chiều diễn ra vô cùng suôn sẻ mặc dù khách vẫn ra vào nườm nượp.

Khi màn đêm buông xuống, công việc còn bận rộn hơn, nhưng Joann đã chạy qua giúp tôi vài lần. Khách xếp hàng chờ đợi đang di chuyển thuận lợi, đa số gọi Single Pump Mocha hay Latte cỡ lớn. Tôi cần phải gọi được tên của đồ uống, kích cỡ và bất kể yêu cầu nào khác của khách như: Một cốc Pump Mocha cỡ lớn. Thường thì tôi hay quên mất mà chỉ nói ‘Một Pump Mocha’ mà không có kèm kích cỡ … hoặc tôi chỉ gọi ‘một Latte cỡ lớn’ mà quên mất phải thêm yêu cầu của khách về việc thêm sữa đã tách chất béo. Thỉnh thoảng khách sẽ gọi Single Pump Mocha hoặc họ sẽ gọi đồ uống theo thứ tự ngược lại, bắt đầu từ sữa, rồi si-rô, rồi mới tới kích cỡ và tôi phải lặp lại những gì họ nói cho Tawana. Tawana sẽ sửa lại lời tôi bằng giọng to nhất có thể và gọi tên đồ uống theo đúng thứ tự. Việc này khiến tôi xấu hổ nhưng tôi học được rất nhanh.

Cũng thật may cho tôi là Tawana có một giọng nói thật lớn. Với khối u não đang ảnh hưởng tới khả năng nghe của mình, tôi đã rất lo lắng về việc nghe không đúng các yêu cầu của khách. Nhưng tôi chưa bao giờ để lỡ tiếng gọi đồ to và rõ ràng của Tawana. Và tôi cũng nhận ra rằng, tôi chỉ cần cúi người gần khách hàng hơn thì sẽ có thể nghe họ nói một cách rõ ràng.

“Hãy hỏi nếu anh thắc mắc điều gì,” Joann nói. “Chỉ cần hỏi thôi.”

Và tôi đã làm như vậy. Tôi nhận ra rằng khách hàng cũng không ngần ngại giúp tôi sửa lại cho đúng những yêu cầu của họ.

Khoảng 7 giờ tối hôm đó, tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy cửa hàng trở nên vô cùng bận rộn. Tôi đã từng nghĩ cà phê là thứ người ta mua trên đường đi làm nhưng rõ ràng bây giờ nó đã trở thành một thứ được mua trên đường trở về nhà. Tôi thấy một doanh nhân cũng đi vào cửa hàng và gia nhập hàng dài khách đang gọi đồ. Khi tôi còn làm việc ở vị trí cũ, tôi đã làm việc rất chăm chỉ để được một vị khách tiềm năng, ăn mặc đẹp đẽ như người đàn ông đó trả lời cuộc gọi. Giờ thì khách hàng của tôi lại đang đứng thành hàng để đợi tới lượt được phục vụ. Thật nực cười biết bao!

Vị doanh nhân bước lên và nói với tôi, “Double Macchiato.”

Anh ta dùng ngôn ngữ của riêng Starbucks. Tôi đã phải rất vất vả mới hiểu được những từ đó được hiển thị như thế nào trên màn hình thanh toán. Tôi bắt đầu thấy xấu hổ khi liên tiếp bấm vào những nút sai.

“Anh mới làm ở đây phải không?” người đàn ông hỏi. Tôi nhìn anh ta. Liệu anh ta có định méc với Crystal và khiến tôi bị đuổi việc ngay ngày đầu tiên đứng quầy không?

Nhưng anh ta mỉm cười trước bộ dạng hoảng hốt của tôi.

“Không phải lo. Anh sẽ làm được thôi.”

Anh ta thế mà còn giành thời gian động viên tôi. Oa. Tôi nhìn lại màn hình với tâm tình sáng lán, thanh tỉnh. Double Macchiato. Nhấn ‘lớn’ và Macchiato. Thật đơn giản.

Vị doanh nhân đó không phải người duy nhất cố gắng giúp tôi thấy thoải mái.

Một cô gái nói với tôi, “Chào mừng tới nơi đây.”

Một anh chàng khác mặc một chiếc áo hở cúc, nhìn như người hippie thì nói, “Tôi thấy mừng là họ tuyển người già.”

Người già? Thôi được, dù không quá vui với lời nhận xét, tôi vẫn cảm kích thái độ của anh ta. Không thể phủ nhận được là tôi già hơn ít nhất một, hai thế hệ so với các Cộng Sự khác. Thế nên thật tốt khi được chào đón kể cả khi lý do là vì tôi trông già.

Khoảng 8 giờ tối, cửa hàng thậm chí còn bận hơn. Tôi đã không biết người ta coi Starbucks như một phần cuộc sống về đêm của họ. Rất nhiều người trẻ xếp hàng để giành thời gian cùng nhau bên ly Latte.

Tập trung nào, tôi nhắc nhở bản thân mình. Nhấn đúng nút, gọi to yêu cầu, trả đúng tiền thừa và cười nào. Một cô gái trẻ tóc vàng đi đến phía quầy của tôi.

“Một cốc Latte thêm sữa tách béo cỡ lớn,” cô ấy nói.

Tôi máy móc nhấn ‘Latte cỡ lớn’ trên màn hình, gọi tên đồ uống cho Tawana theo đúng thứ tự, nhận đồng năm đô la của cô gái và trả tiền lẻ. Khi tôi ngẩng đầu lên để mỉm cười thì tôi nhận ra đó chính là con gái tôi, Annie! Tôi đã quá tập trung vào việc làm thế nào để không mắc lỗi, đến nỗi không biết là mình đang phục vụ ai.

“Chào bố,” con bé cười. Rõ ràng là nó thấy buồn cười khi tôi không nhận ra nó. Hoặc có thể nó thấy buồn cười khi nhìn thấy tôi mặc một cái tạp dề màu xanh, đội mũ màu đen và làm ở vị trí mà rõ ràng là vượt qua sức tưởng tượng của tôi.

“Annie!” tôi gọi. “Thật tốt được gặp con.”

Tôi bắt đầu thấy máu dồn lên mặt. Tôi đang đứng ở đây, làm công việc chân tay và phục vụ chính con gái mình. Tôi chỉ có thể nghĩ đến những câu từ sáo rỗng … Tôi dường như không suy nghĩ được gì cả. Nhưng rồi tôi nghĩ đến việc Crystal nói về sự tôn trọng, và cố gắng đứng thẳng để thể hiện sự tôn trọng bản thân và con gái mình. Annie có vẻ đã nhận ra là tôi đang phải vật lộn để chào hỏi nó một cách tử tế, và đằng sau thì còn một hàng dài khách đang chờ để được gọi đồ.

Con bé tự tin làm chủ tình thế. “Con sẽ đợi, mấy giờ bố tan làm?”

“Chín giờ … Bố tan làm lúc chín giờ.”

“Vậy con sẽ đợi đến lúc đó,” con bé nói và đi đến khu quầy để lấy đồ uống. Annie trông có vẻ thoải mái ở Starbucks hơn là tôi.

“Mocha không kem, thêm sữa tách béo cỡ lớn”, một cô gái trẻ gọi đồ. Tôi nỗ lực nhấn những nút khác nhau trên màn hình và gọi lớn tên đồ uống cho Tawana. May mắn là Tawana gọi lại đúng theo thứ tự tôi đã nói. Vị khách đó rõ ràng biết rõ phải gọi đồ như thế nào.

Bạn có biết cảm giác khi bạn chơi thể thao hay một hoạt động thể chất nào đó và không thể ngừng được, cũng không thể nghĩ gì được không? Tôi vẫn còn nhớ khi chơi bóng ở cấp ba. Cũng như bây giờ, tôi không nhận ra mình đang làm gì nhưng những nỗ lực, bùn đất, việc xử lý tình huống và sự xô đẩy cứ cuốn tôi theo. Nếu bạn được xem tôi chơi lúc đó, bạn sẽ thấy tôi có thừa cố gắng nhưng chơi cũng chẳng tốt lắm. Có lẽ bây giờ tôi cũng đang làm như vậy. Phần còn lại của buổi tối trôi qua trong mơ màng.

Khi đêm càng sâu, Joann trở về nhà với con. Crystal đi đến phía sau tôi. “Đến giờ rồi, Mike,” cô ấy gọi. “Lấy ngăn kéo tiền của anh ra đi.”

“Kéo niềng răng ra?”

Crystal phá ra cười và nói với Bianca. “Anh ta nói kéo riềng răng của anh ta ra kìa!”

Dù tôi phản đối, nhưng tôi thực sự thích việc họ đang cười nhạo tôi. Ít nhất điều này cho thấy họ thấy thoải mái khi ở cạnh tôi.

Crystal chỉ cho tôi cách kiểm đếm số tiền.

“Số tiền ‘dư’ của anh sẽ bằng tổng số tiền có trong khay trừ đi 150 đô la. Đừng lo, cái máy sẽ cho anh biết chính xác con số.”

Và cái máy đã làm như vậy. Trên màn hình máy tính cũng hiện lên sai số là 4,5 đô la.

“Lần đầu thế này là không tệ rồi,” Crystal nói. “Như tôi đã nói, anh được phép có sai số từ 5 đô la trở xuống … nhưng hầu hết các Cộng Sự khác chỉ nhầm vài xu thôi. Rồi anh sẽ làm làm được.”

Cô ấy có bị chập mạch không? Cô ấy đâu biết là mình đang nói chuyện với một thằng ngu về tài chính. Nhưng tôi thấy thật may phước là tôi đã vượt qua được trải nghiệm tồi tệ này. Tôi chả thích thú gì cái quầy đó cả nhưng lại khá ngạc nhiên vì mình đã cảm thấy rất vui vì được tiếp xúc với những vị khách háo hức được gọi đồ từ tôi.

“Anh đã làm tốt, Mike,” Crystal nói trong khi xem xét cái khay tiền của tôi. “Nhưng hãy cố gọi đúng tên các loại đồ uống. Tôi cũng đã quan sát và thấy anh thường giao tiếp bằng mắt với khách nhưng hiếm khi nói gì với họ. Tôi hiểu là anh cũng chả có nhiều thời gian khi mà khách chờ thành hàng dài nhưng khi có thời gian thì anh nên cố nói vài lời. Rất nhiều người đến Starbucks để cảm thấy tốt hơn … Một phần công việc của chúng ta là khiến họ thấy tốt hơn.”

“Chắc chắn rồi,” tôi nói, cảm thấy may mắn khi không tính sai đến hàng trăm đô la.

Crystal nhìn đồng hồ.

“Tôi phải đi đây,” cô ấy nói và với lấy một cái áo khoác da đẹp đẽ. “Nhớ chấm công, Mike,” cô ấy gọi với lại khi đang đi ra cửa.

Tôi để ý thấy một chiếc Corvette đang đỗ ở bên ngoài và rõ ràng là đang đợi cô ấy. Crystal là một người rất thu hút. Tôi thấy cô ấy dừng lại để nói chuyện với một vài người khách. Dù có người đang đợi, cô ấy vẫn ưu tiên công việc trước.

Tôi chấm công trên cái mính tính của cô ấy lúc … 9 giờ 5 phút. Tôi đã làm bẩy tiếng. Chân tôi đau ê ẩm, đầu thì vẫn quay vòng vòng.

Rồi tôi nhớ ra: Annie! Con bé vẫn đang đợi tôi. Tôi nhanh chóng cởi bỏ cái tạp dề và đi về phía trước quán.

Tôi thấy con bé ở trong một góc, tại một cái bàn nhỏ và đang đọc sách.

“Chào Annie.”

“Bố!” Con bé đứng dậy và ôm tôi thật chặt.

Tôi cảm thấy tốt hơn nhiều.

“Con có muốn một cốc Latte nữa không?” tôi hỏi.

“Không cần đâu,” con bé cười, “đi thôi … cũng muộn rồi bố.”

Annie biết tôi thường muốn đi ngủ sớm. Tôi thích làm một con chim sơn ca hơn là một con cú, và trong quãng thời gian trưởng thành, Annie và tôi thường cùng nhau thưởng thức buổi sáng. Khi con bé được hai hay ba tuổi gì đó, chúng tôi thường đi dạo xuống cái hồ ở Connecticut trong không khí bình minh trong lành của những ngày hè. Tôi thường chơi té nước với con bé ở những chỗ cạn và ngắm mặt trời hiện lên sau những rặng cây lá kim. Rồi chúng tôi sẽ đi về nhà và cùng ăn ngũ cốc trong khi đợi những người khác thức dậy.

Chúng tôi đi ra cửa và Annie bám lấy tay tôi. Điều đó làm tôi thấy tốt hơn.

Qua khóe mắt, tôi thấy Crystal vẫn đang trò chuyện với khách. Thật đáng kinh ngạc.

“Chúng ta sẽ đi tàu đến Quảng trường Thời đại,” Annie giành quyền quyết định, “sau đó chúng ta đi xe buýt tới Grand Central và con có thể đi tàu về Brooklyn từ đó. Và bố có thể đi tàu về Bronxville.”

Annie đã có hết kế hoạch trong đầu. Nó là người chăm chỉ và là một sinh viên xuất sắc tốt nghiệp trường Phi Beta Kappa nhưng lại chọn làm một diễn viên. Và nó đã mang tất cả khả năng tổ chức tích cực của mình phục vụ nghề nghiệp.

Khi chúng tôi đón chuyến tàu tròng trành về khu trung tâm, chúng tôi đã nói chuyện trong tiếng ồn ào.

“Con muốn xem có phải bố thật sự đang làm ở Starbucks hay không,” Annie giải thích. Tôi đã nói với mẹ con bé và để lại lời nhắn cho Annie là tôi đang làm việc tại cửa hàng ở Broadway nhưng cũng đề nghị mọi người đợi một thời gian đến khi tôi thực sự làm tốt công việc. Dĩ nhiên con bé đã không đợi.

Annie được sinh ra với cái gen không thích chờ đợi. Tôi vẫn còn nhớ khi nó được ba tuổi đã nói với tôi “Con muốn cưỡi ngựa.”

“Được thôi,” tôi nói. “Một ngày nào đó khi con có thể.”

“Bây giờ cơ.”

“Nhưng con còn bé quá.”

Annie là một cô gái nhỏ ưa vận động … nhưng trong mắt tôi thì vẫn còn quá bé để xử lý một con vật to lớn nguy hiểm như ngựa.

“Làm ơn đi mà,” con bé nói, và lặp lại nhiều đến nỗi cuối cùng tôi cũng quyết định phải cho con bé thấy rằng cưỡi ngựa là vấn đề mà những cô bé ở tuổi nó không nên bàn đến.

Tôi đưa con bé đến một trường dạy cưỡi ngựa và để người chủ nói chuyện với nó. Chúng tôi ngồi trong văn phòng của ông ấy. Ông ấy ngồi đằng sau một cái bàn lớn và trông có vẻ áp đặt. Annie thì lại không có vẻ ngạc nhiên.

“Cháu muốn cưỡi ngựa,” con bé nói, tuột khỏi lòng tôi và đến đứng trước mặt ông ấy. Con bé luôn đứng rất thẳng.

“Xin lỗi, cô gái nhỏ,” ông ấy nói. “Chúng tôi không nhận bất kỳ ai dưới năm tuổi.”

Annie nhìn ông ta một lúc và sau đó lặp lại yêu cầu của mình, to rõ hơn. Cùng với sự kiên trì của Annie thì con bé lại khá nóng nảy. Con bé có khuôn mặt làm tôi nhớ đến những bức ảnh cũ của Nữ hoàng Victoria: khá mũm mĩm nhưng khóe miệng lại trễ xuống theo kiểu “tôi chả hứng thú gì”. Phải một năm sau khi sinh ra con bé mới nở một nụ cười thật sự mặc cho chúng tôi có nỗ lực đến đâu. Con bé có một nụ cười rất đẹp nhưng biểu hiện thông thường của nó lại thể hiện một sự quyết tâm nghiêm túc.

Người đàn ông rướn người về phía trước.

“Ta rất thích thái độ của cháu,” ông ấy nói, “nhưng ta rất tiếc là cháu còn quá nhỏ.”

“Làm ơn đi mà!” Annie nói. Tôi có thể cảm nhận được là chúng tôi sắp có một trận náo loạn và có lẽ ông ta cũng sẽ tức giận. Annie là vô song trong việc ăn vạ. Con bé có thể ăn vạ long trời nhưng lại ngừng ngay khi có được cái nó muốn. Annie ít hay nhiều đều có ảnh hưởng tới tôi từ khi nó ra đời. Có lẽ người đàn ông này sẽ sớm nhận ra bé gái ba tuổi này quyền lực đến thế nào.

“Ta sẽ chỉ cho cháu ta định làm gì,” ông ấy nói rồi đi vòng qua cái bàn và nắm lấy tay Annie. Con bé là một cô bé dễ thương với mái tóc vàng dầy – khó ai có thể cưỡng lại.

Hai người cùng đi ra khu vực cưỡi ngựa.

Ông ta gọi một người phụ nữ trẻ đang dẫn một con ngựa đi quanh.

“Amanda,” ông ta gọi, “đem Trigger tới. Tôi muốn chỉ cho cô bé này vài điều.”

Có lẽ ông ta hy vọng một con ngựa to lớn tiếp cận chúng tôi sẽ khiến Annie sợ. Tôi thì rất sợ. Tôi chưa bao giờ thích những con ngựa và Trigger nhìn quá to lớn để bất kỳ ai cưỡi.

“Cháu có muốn cưỡi con ngựa đó không, cô bé?” người chủ hỏi với một giọng nhường nhịn.

Annie không nói gì. Con bé chỉ chạy ngay đến và cố leo lên.

Amanda giúp con bé ngồi lên yên và cười. Rõ ràng là Amanda đứng về phía Annie.

“Amanda, từ từ thôi nhé,” người đàn ông to lớn nói. “Con bé chỉ mới ba tuổi.”

“Có vẻ con bé đã sẵn sàng rồi,” Amanda nói và bắt đầu dẫn con ngựa một cách chậm rãi quanh bãi. Amanda đặt dây cương vào tay Annie, mặc dù cô ấy vẫn nắm một đầu.

“Khỉ thật,” người đàn ông lẩm bẩm. Dù vậy tôi vẫn có thể nghe được.

Tôi nhìn ông ta.

“Con bé thật có tinh thần,” ông ta nói. “Thôi được, chúng tôi sẽ nhận con bé. Amanda có thể làm việc này.”

Ông ta quay người và đi về văn phòng, để lại tôi đứng đó nhìn Annie và Amanda đi chậm quanh bãi.

Annie đã thắng. Con bé đã không đợi một cách kiên nhẫn để được cho phép cưỡi ngựa. Vì vậy tôi cũng không ngạc nhiên khi con bé xuất hiện để gặp tôi mặc cho tôi đã đề nghị đừng ai đến cho đến khi tôi làm tốt công việc.

“Con chỉ muốn xem điều này có thật không,” Annie cười.

“Ờ thì nó cũng là một công việc,” tôi tự bào chữa.

“Không, đừng hiểu lầm ý con,” Annie nói. “Con thích việc này. Bố trông tuyệt lắm khi đội cái mũ đen đó.”

Tôi có thể cảm nhận được rằng con bé đang nghiêm túc dù nó có vẻ như đang đùa giỡn. Có lẽ nó thích cái việc là tôi sẵn sàng làm việc chăm chỉ. Và rõ ràng là con bé cũng chẳng bận tâm đến sự thật tôi đang phải đánh vật với công việc.

“Bố vẫn không biết mình đang làm gì nữa,” tôi nói.

“Con biết … trông bố có vẻ thế thật!” con bé cười. Tôi cũng cười. Tôi vẫn rất yêu con bé và tôi thấy thật hối hận.

“Annie,” tôi nói một cách chân thành, “Bố rất xin lỗi vì bố đã phá hỏng cuộc đời mình và cả cuộc sống của con … ”

Giống như tôi đã nhắc nó về một thực tế mà nó đã quên và đột nhiên không khí tốt đẹp dường như tiêu tan. Con bé nói một cách giận dữ, “Con sẽ không bao giờ nghe lời khuyên không ra gì của bố nữa.”

Con tàu đi vào Quảng trường Thời đại, và chúng tôi bước xuống. Annie dẫn đường đến bến xe buýt, nơi chúng tôi đổi xe.

Khi chúng tôi ngồi đợi xe đến để đưa chúng tôi tới Grand Central, tôi phá vỡ sự im lặng. “Bố xin lỗi,” tôi lặp lại.

“Xin lỗi chẳng thay đổi được gì,” Annie nói. Con bé luôn nóng nảy như thế.

Xe buýt toàn là người. Tôi nhường chỗ cho một cụ già đang mang đến năm túi đồ. Annie cũng đứng. Chúng tôi bị dồn ép bởi nhiều người khác.

Annie đang mặc một cái áo khoác rất đẹp và dáng con bé vẫn thẳng dù cho dòng người đông đúc và chiếc xe nghiêng ngả. Con bé trông thật rực rỡ và xinh đẹp – kể cả dưới ánh đèn huỳnh quang yếu ớt. Con bé thật hoàn hảo. Tôi thì nhìn xuống chân mình và ghét bỏ cái ý nghĩ rằng mình đã mất đứa con gái thông minh và chăm chỉ vì những hành động ích kỷ và ngu xuẩn của bản thân.

Chúng tôi ra khỏi Grand Central. Khi đi qua những ngọn đèn ấm áp của quán Oyster Bar, tôi đã rất muốn mời Annie ăn gì đó với mình. Nhưng rồi tôi nhớ ra khoảnh khắc ngồi trong phòng nhân viên kế toán để chốt thuế vào khoảng hai tuần trước.

Lawrence Best đã giúp tôi và rất nhiều nhân viên quảng cáo thành công khác quản lý tiền của họ. Nhưng năm ngoái tôi đã nói rằng tôi không đủ tiền để trả anh ta nữa. Anh ta nói anh ta vẫn muốn giúp tôi. Khi tôi mang hóa đơn thuế đến, tôi mang theo hai phiếu quà tặng của Starbucks cho lũ trẻ nhà anh ấy. Larry đã rất vui mừng khi nhận khoản tiền công ít ỏi này.

“Bọn trẻ nhà tôi sẽ thích cái này lắm,” anh ấy nói. “Chúng không biết tôi làm gì, thật đấy. Nhưng tôi biết chúng thích Starbucks và giờ chúng đang học đại học nên chắc bọn trẻ sẽ dùng đến cái này.”

“Giờ thì xem nào”, anh ấy nói, “nhìn vào bản kê thuế của anh, tôi có thể thấy là anh đã dùng bữa ở Oyster Bar.”

“Đúng vậy, nó nằm trên đường tôi về nhà từ Starbucks.”

“Nhưng,” Larry nói khi rướn người về phía trước, “vấn đề là anh không phải một nhân viên quảng cáo thành đạt kiếm được nhiều tiền nữa. Anh đang làm việc ở Starbucks và kiếm được bao nhiêu? Mười đô một giờ hả? Với số tiền đó thì chả đủ cho anh ăn một con hàu.”

Larry ngồi lại và chỉ vào một cái túi giấy nhỏ trên cái bàn làm việc đầy giấy tờ của anh ấy.

“Đó là bữa trưa của tôi.”

Và tôi hiểu anh ấy muốn nói gì.

Vì thế tôi gạt bỏ ý nghĩ đãi Annie bữa ăn khuya tại Oyster Bar. Nhưng tôi vẫn muốn xin lỗi con bé. Tôi vẫn nhớ việc Crystal nhấn mạnh đến nhân phẩm và sự tôn trọng và có vẻ như tôi chưa từng đối xử với Annie hay bất kỳ đứa con nào của mình bằng nhân phẩm và sự tôn trọng mà chúng đáng có. Tôi là tên ngốc luôn đưa ra lời khuyên khi mà chính cuộc đời tôi cũng đang gặp thất bại.

Tôi dừng bước và nhìn vào đôi mắt xanh của Annie rồi nói: “Bố xin lỗi vì đã hành động như một kẻ ngu ngốc.”

Con bé tiến đến và ôm tôi.

“Có lẽ bố đã rất ngu ngốc nhưng con thích việc bố đang làm tại Starbucks.”

Tôi thấy thật nhẹ nhõm. Annie nóng tính nhưng cũng rất dễ tha thứ để bước tiếp. Tôi từng nói với con bé: “Con giống như một con bão mùa hè vậy.”

“Ý bố là gì?” Annie hỏi.

“Cơn giận của con thật mạnh mẽ nhưng cũng qua nhanh.”

“Nhưng sau những cơn mưa mùa hè đó, không khí thật tuyệt … một cảm giác mọi thứ đều mới mẻ!” Annie trả lời và thắng cuộc tranh luận.

Giờ thì con bé nhìn lên màn hình lớn ghi thông tin các chuyến tàu.

“Con sẽ đi dọc hành lang này để bắt chuyến tàu tới Brooklyn,” con bé nói, “Chuyến tàu tiếp theo của bố tới Bronxville sẽ khởi hành trong bốn phút nữa. Đừng để lỡ nhé.”

Rồi con bé ôm tôi thật chặt và hôn tôi một cái rồi tôi phải chạy vội để bắt kịp chuyến tàu với một trái tim lâng lâng hạnh phúc.

 

Thử thách thần chết P2 – 49 ngày cuối cùng để xin tha thứ

Hôm qua Amber đi xem Thử thách thần chết phần 2 và muốn chia sẻ với bạn luôn. So với phần 1 thì phần 2 có vẻ u ám hơn và cũng nhiều day dứt hơn.

Thử thách thần chết
Thử thách thần chết P2 – Kiếp trước của các vệ thần

 

Tiếp tục cuộc hành trình đưa linh hồn thứ 49 qua cửa ải của các tầng địa ngục để được đầu thai, ba vệ thần Gang Lim, Haewonmaek và Duk Choon dần dần được biết về cuộc đời của họ khi còn sống.

Hóa ra cả ba người đều có dây dưa với nhau khi còn sống. Gang Lim là tướng quân Cao Ly, là con trai của một vị tướng đại tài. Bản thân Gang Lim cũng là người có tài nhưng lại để sự đố kỵ che mờ mắt mà phản bội lại cha và em trai nuôi của mình.

Thử thách thần chết
Thử thách thần chết P2 – Kang Lim, Gia thần và Chúa tể Yeomra

 

Haewonmeak là đưa trẻ mồ côi được nhận nuôi trong chiến tranh loạn lạc. Cha nuôi yêu thương dạy dỗ anh, nhưng anh lại không thể bảo vệ ông. Rồi có kẻ ghen ghét buộc anh đến nơi biên cương lạnh giá chống giặc Nữ Chân.

Còn Duk Choon là cô gái người Nữ Chân giàu tình thương và kiên cường. Nhà cửa, làng mạc bị phá, cha mẹ bị giết nhưng Duk Choon vẫn che chở bảo vệ cho những đứa trẻ mồ côi khác.

Thử thách thần chết
Thử thách thần chết P2 – Quá khứ khiến Heawonmaek phải rơi lệ

 

Mối dây liên hệ giữa ba người thật khó mà một lời nói hết. Nhưng trong ba người, chỉ có Kang Lim là còn nhớ về kiếp trước. Và đó là cái giá anh ta phải trả cho những lỗi lầm đã gây ra trong quá khứ. Trong 1000 năm anh ta phải dằn vặt với dự hèn yếu, bạc nhược của mình và nỗi day dứt khôn nguôi vì không thể nói lời xin lỗi người thân.

Trong phần 2 này, các vệ thần chia làm hai chiến tuyến. Kang Lim ở lại Hậu thế để bào chữa và bảo vệ cho linh hồn Cha Su Hong đi qua mọi thử thách để được đầu thai. Tuy bị cáo là Su Hong nhưng người cuối cùng được phán xét lại là Kang Lim.

Còn Haewonmaek và Duk Choon thì phải xuống hạ giới để đón người chết. Mà người này lại được một gia thần hùng mạnh bảo trợ. Cũng chính vị gia thần này đã kể cho hai người họ nghe về quá khứ nghìn năm trước.

Có thể nói phần 2 của Thử thách thần chết chính là bài học sâu sắc về nhân quả báo ứng. Những tội lỗi trên dương gian mà một người mắc phải thì kể cả khi đã chết cũng sẽ phải trả hết. Bộ phim còn đề cao sự vị tha, lòng khoan dung đối với những người đã làm việc sai trái. Sau khi đã trả hết nợ nần thì họ đáng được tha thứ và đáng nhận được cơ hội thứ hai.

Xin kết lại bằng một câu trong phim “Không có người xấu, chỉ có hoàn cảnh xấu”. Nói chung Amber thấy bộ phim hay và ý nghĩa. Nếu bạn có thời gian thì mau ra rạp thưởng thức nhé!

Hương Mật Tự Khói Sương – Điện Tuyến

HƯƠNG MẬT TỰA KHÓI SƯƠNG

Tác giả: Điện Tuyến

Thể loại: Huyền huyễn, có ebook

Link ebook: Tại đây

Hương mật tựa khói sương bản truyền hình vừa mới ra mắt và Amber đang rất hứng thú với phim này. Nhân tiện đây, Amber review về truyện này cho bạn tò mò có thể tham khảo nhé!

Thiên giới khi xưa có một vị thiên đế đào hoa nhưng ích kỷ. Ông ta yêu hoa thần Tử Phân nhưng lại lập người khác làm thiên hậu. Bà vợ này cũng không phải dạng vừa, hết lần này đến lần khác hãm hại tình địch.

Hoa thần vì uất ức và bị hãm hại mà sinh non rồi hương tiêu ngọc vẫn. Đứa bé được đặt tên là Cẩm Mịch và được cả hoa giới bảo vệ mà lớn lên, vô ưu vô lo. Thân phận của đứa bé được mọi người giấu và cha nàng là ai cũng chẳng ai biết. Cẩm Mịch cứ nghĩ mình chỉ là một tiểu hoa yêu không chí tiến thủ, sống vui vẻ với lũ hoa tinh, quả tinh trong Thủy Kính. Cho đến một ngày, một con chim đen thui tự dưng rơi từ trên trời xuống trúng người Cẩm Mịch thì bánh xe vận mệnh của nàng mới bắt đầu xoay.

Hương mật tựa khói sương
Hương mật tựa khói sương

Nàng cứ tưởng cái đống đen thui đó là một con quạ. Thế nhưng cái con quạ đó hóa ra lại là phượng hoàng vừa mới niết bàn. Và con phượng hoàng đó chính là thái tử thiên giới Húc Phượng. Cẩm Mịch vô tâm, Húc Phượng lạnh lùng cứ vậy mà dính vào nhau, dây dưa không rõ. Húc Phượng đem Cẩm Mịch ra khỏi hoa giới tới thiên đình. Ở đây nàng làm quen được với một người bạn nữa là Dạ Thần – đứa con hoang của thiên đế.

Cứ như vậy, Cẩm Mịch bị cuốn vào những âm mưu, thử thách trên thiên đình. Thiên hậu rất ghét nàng, mà những cô gái vây quanh Húc Phượng cũng chẳng để nàng yên. Tuy nhiên nàng lại tìm được cha ruột chính là Thủy thần.

Rồi tai họa dần ập xuống. Đầu tiên là nàng bị thiên hậu tra tấn đến thừa sống thiếu chết may mà có Húc Phượng liều mình cứu. Rồi cha Thủy thần chết mà không rõ kẻ thủ ác. Tất cả manh mối đều dẫn dắt nàng đến Húc Phượng. Cẩm Mịch lập mưu lừa mọi người rằng nàng yêu Húc Phượng và muốn kết hôn với chàng để báo thù.

Hương mật tựa khói sương
Hương mật tựa khói sương

Vào ngày đại hôn của Cẩm Mịch, nàng một dao đâm vào tim Húc Phượng. Trước khi tan biến, Húc Phượng đã hỏi nàng “Có từng yêu ta không?”. Cẩm Mịch chỉ lạnh lùng trả lời không. Húc Phượng chết, còn nàng nôn ra vẫn đan. Hóa ra từ khi sinh ra nàng đã được mẹ cho uống vẫn đan để tuyệt tình tuyệt ái. Và vì nó mà nàng chẳng hề biết hóa ra nàng thực sự yêu Húc Phượng. Hương mật tựa khói sương mà nàng chẳng thể nắm bắt.

Mà cũng trong ngày đại hôn đó, Dạ Thần đem quân vào hạch tội thiên đế, thiên hậu. Và vì Húc Phượng đã chẳng còn, Dạ Thần đường hoàng ngồi lên ngai vị cao nhất. Cuối cùng thì Cẩm Mịch cũng chỉ là con cờ bị người khác lợi dụng để mưu cầu quyền lực. Đến khi phát hiện ra thì đã quá muộn, Húc Phượng cũng chẳng muốn tha thứ cho nàng nữa. Mà nàng cũng chẳng thể nào tha thứ cho Dạ Thần.

Phần đầu truyện thì vui vẻ, hài hước, phần giữa thì ngọt ngào, phần cuối thì ngược. Kết thúc của Hương mật tựa khói sương thế nào thì để bạn tự đọc tự tìm hiểu nhé. Chỉ biết là truyện sẽ HE để bạn khỏi thấp thỏm!

 

 

 

Thử thách thần chết P1- Bạn làm gì đều có quả báo!

Thử thách thần chết phần 2 sẽ ra rạp ngày 10.08 này nên Amber xin review một chút về phần 1 để bạn nào chưa có dịp xem thì có thể biết mà xem luôn.

Thử thách thần chết là bộ phim dựa trên triết lý phật giáo – rằng con người sau khi chết sẽ phải đi qua nhiều tầng địa ngục, kẻ xứng đáng mới có thể đầu thai. Trong 49 ngày sau khi chết, mọi người sẽ phải đi qua bẩy tầng địa ngục là: Sát sinh, bạo lực, bất hiếu, nói dối, lười nhác, bất công và bất tín.

Thử thách thần chết
Thử thách thần chết – Ja Hong và các vệ thần

Ja Hong là một lính cứu hỏa, chết khi đang cứu người khác. Anh ta được coi là một linh hồn thuần khiết và khả năng cao là sẽ được đầu thai. Đồng hành cùng với Ja Hong là ba vệ thần: Trưởng vệ thần Gwang Lim, có khả năng du hành giữa Hậu thế và Dương thế, có thể bắt linh hồn thù hận, rất giỏi khua môi múa mép. Người thứ hai là Phó vệ thần Haewonmak, cây hài của cả nhóm, đẹp trai, cao to và giỏi đánh đấm. Người thứ ba là Trợ lý vệ thần Dukchun, hiền lành, ngây thơ, hay giúp đỡ các linh hồn và đôi khi đảm nhiệm vị trí biện hộ thay Gwang Lim.

Thử thách thần chết
Thử thách thần chết – Dòng sông qua địa ngục lười nhác

Hành trình qua bảy tầng địa ngục dần dần bóc trần những tâm tư, suy nghĩ sâu kín nhất trong tầm hồn một con người. Những gì anh ta đã làm, đã nói, đã nghĩ khi còn sống đều bị các vị thần nhìn thấu. Ở nơi Hậu thế đó, mọi người đều ngang hàng và chỉ người tốt mới được đầu thai.

Thử thách thần chết
Thử thách thần chết – Địa ngục lười nhác

Ja Hong cũng không phải tốt đẹp như tấm bài linh hồn thuần khiết của anh. Anh bỏ nhà đi từ khi còn nhỏ, để lại đứa em trai bị suy dinh dưỡng và bà mẹ ốm yếu. Suốt 15 năm anh không về nhà thăm mẹ và em một lần. Nhưng đó là vì anh còn phải làm việc kiếm tiền gửi về nuôi em và mẹ. Trong mười lăm năm đó anh viết hàng trăm lá thư trong đó là những câu truyện bịa đặt để khiến mẹ vui lòng. Anh giả danh viết thư cho con gái đồng nghiệp đã mất, để cô bé vượt qua nỗi đau. Mỗi hành động đó đều phạm vào luật trời. Nhưng các vị thần thấu hiểu đều tuyên trắng án cho Ja Hong. Và cuối cùng Ja Hong cũng bình an vượt qua thử thách để đầu thai.

Thử thách thần chết
Thử thách thần chết – Địa ngục sát sinh

Bộ phim có nội dung đơn giản nhưng nhất quán. Nhân vật trong phim không nhiều nhưng thể hiện hết được những nét tính cách bình thường của con người. Cảnh và kỹ xảo trong phim được làm rất đẹp, thật và không thừa thãi. Hơn hai tiếng xem phim, người xem không thấy mệt hay buồn ngủ, vì đây đó xen lẫn vẫn có sự hài hước, dí dỏm. Mỗi tầng địa ngục mở ra lại khiến người ta háo hức khám phá.

Phần 2 kể về cuộc hành trình của một linh hồn khác. Lần này, thân thế của các vệ thần cũng được hé lộ! Hy vọng sẽ là một tác phẩm hay như P1.

 

 

Tháng 11 đến Chiang Mai dự lễ hội đèn lồng!

Lễ hội đèn lồng ở Chiang Mai, Thái Lan là một trong những lễ hội đẹp nhất và đáng tham dự nhất tại đất nước láng giềng này. Amber tham gia lễ hội này vào tháng 11 năm 2016 nhưng đến giờ vẫn thấy rất ấn tượng. Amber chia sẻ với bạn kinh nghiệm để bạn tự trải nghiệm nhé!

Lễ hội đèn lồng ở Chiang Mai
Lễ hội đèn lồng ở Chiang Mai
  1. Đặt vé máy bay

Amber hồi đó đặt vé của Air Asia đến sân bay Don Mueang của Bangkok và rồi chuyển tiếp luôn đến Chiang Mai qua chuyến bay của hãng Tiger Air. Rất may là hiện nay Air Asia đã có chuyến bay thẳng từ Hà Nội tới Chiang Mai nên rất tiện.

Ngoài ra một lựa chọn nữa là bạn nên bay đến sân bay Suvarnabhumi ở Bangkok và ở lại thủ đô chơi 1 ngày rồi hôm sau mới tới Chiang Mai. Lý do vì sao ư? Vì sân bay Suvarnabhumi rộng hơn, đẹp hơn và có nhiều chuyến đến hơn nên bạn tha hồ mà tìm vé giá rẻ. Ngoài ra có thêm một ngày ở Bangkok cũng giúp bạn có thời gian nghỉ ngơi, đi dạo quanh.

Lễ hội đèn lồng ở Chiang Mai
Lễ hội đèn lồng ở Chiang Mai

 

2. Ở đâu tại Chiang Mai

Mình hồi đó đặt ở chung với bạn nên ở khách sạn Furama. Giá cả cũng không phải quá đắt tuy nhiên lại không gần khu ngắm đèn. Lúc nào muốn đi chơi lại phải thuê xe tuk tuk khá tốn kém.

Nếu bạn muốn tìm nơi ở lý tưởng để tiện xem đèn lồng và các hoạt động văn hóa của lễ hội thì nên tìm chỗ nào gần sông Ping. Ví dụ như bạn mình ở khách sạn tên Tawan Bed Club. Chỗ đó gần chợ đêm, gần Night Plaza nên rất hợp để bạn di chuyển đi ngắm nghía và tham dự lễ hội.

Lễ hội đèn lồng ở Chiang Mai
Lễ hội đèn lồng ở Chiang Mai – Chợ đêm

 

3. Địa điểm xem đèn lồng:

Du khách tham dự lễ hội đều muốn đến Đền Lanna Dhutanka để biết đến màn thả hàng ngàn chiếc đèn trời cùng một lúc. Đó là một cảnh tượng tráng lệ mà Amber … chưa có dịp được xem. Lý do là gì vé vào cửa đắt quá. Tầm 100 – 300 usd cho một vé nên Amber đã quyết định ra sông Ping thả đèn cũng được.

Dọc hai bên bờ sông Ping, dân địa phương và du khách tập trung thả đèn rất nhiều. Một cái đèn có giá 20 bath, cũng chả đắt. Bạn có thể mua đèn ở bất kỳ đâu rồi kiếm chỗ nào thật đẹp bên bờ sông mà thả là ổn. Để châm đèn thì hầu như chỗ nào cũng có nến và miễn phí.

Lễ hội đèn lồng ở Chiang Mai
Lễ hội đèn lồng ở Chiang Mai

 

Nói chung, vì mọi nhà, mọi người đều tập trung thả đèn vào mấy ngày lễ hội thế nên dù không thấy hàng ngàn chiếc đèn bay lên cùng một lúc, thì bạn cũng hoàn toàn có thể chiêm ngưỡng hàng ngàn chiếc đèn lơ lửng trên bầu trời suốt đêm. Khung cảnh đó thật là không thốt nên lời.

Dọc hai bên sông còn có vô số các quán bán đồ ăn sẽ giúp bạn thỏa mãn cả phần nhìn, ngửi và thưởng thức nhé!

Ngày diễn ra lễ hội mỗi năm lại khác nhau vì lễ được tính theo lịch âm. Năm nay, ngày lễ chính là vào 21 – 23 tháng 11, 2018. Nếu bạn đang có ý định đi chơi Thái Lan thì nhanh chân đặt vé nhé. Càng gần ngày lễ, vé càng đắt.

 

 

 

List truyện điền văn hay nhất

Xin trích dẫn lại lời của một ai đó đã đọc ở trên mạng rằng “Truyện điền văn dài nhưng không dở”. Thế nên đây là thể loại mà Amber rất thích mặc dù nhiều chữ. Truyện bên dưới là những truyện Amber đã đọc hoặc đang đọc. Amber liệt kê danh sách để bạn có thể theo dõi và chia sẻ nhé!

  1. Chàng ngốc ở thôn nọ – Phúc Bảo (10/10)

Tóm tắt ở đây nhé!

2. Nơi nào củi gạo không vương khói bếp – Lãnh Tuyền (9/10)

Số chương: 46c + 5PN

Tóm tắt nội dung: Nếu nói đây là truyện điền văn thì Amber thấy không giống lắm dù nội dung cũng xoay quanh cuộc sống đời thường của một đôi vợ chồng. Tuy nhiên cuộc đời của hai người được miêu tả giản lược rất nhiều. Truyện ít đi sâu vào tâm lí, mà chỉ chấm phá vài nét cơ bản để khắc họa tình huống. Nhưng có lẽ đó là quá đủ. Với cuộc đời sóng gió mà nam, nữ chính đã phải trải qua thì việc miêu tả quá chi tiết nỗi đau sẽ chỉ khiến người đọc thấy nặng nề. Truyện rất hay và cảm động.

3. Tú sắc nông gia – Quả Vô (9/10)

Số chương: 259c + 7PN

Tóm tắt nội dung: Đây là truyện điền văn điển hình – một cô xuyên không về, dùng kiến thức hiện đại để kiếm tiền, làm giàu. Việc đầu tiên để cô kiếm tiền là làm đồ ăn, sau đó bán đồ cho tiệm ăn, rồi đến làm đồ ăn theo quy mô công nghiệp. Cô làm giàu cho nhà mình, rồi lại giúp cả làng làm giàu, tất nhiên trừ những kẻ xấu từng ức hiếp vợ chồng cô. Rồi vợ chồng cô đổi nhà, đổi việc v.v. Truyện được cái xây dựng nhân vật phụ có hồn, có câu truyện riêng nên tổng thể không bị loãng. Mà nữ chính cũng không làm mấy trò quá lố gì.

4. Trở về năm 1981 – Tú Cẩm (9/10)

Số chương: 65c

Tóm tắt nội dung: nửa đầu là truyện điền văn, nửa sau chuyển sang thể loại hình sự, và xuyên suốt cả truyện lại là yếu tố huyền huyễn. Nói đây là nồi lẩu thập cẩm cũng đúng, nhưng là một nồi lẩu không đến nỗi nào. Nữ chính nhận nhiệm vụ của bên trên, quay lại năm 1981 để chăm sóc nam chính từ khi anh này mới … 3 tuổi. Rồi khi anh này lớn lên rồi thì nữ chính lại bị dính vào một vụ án và bị giết người diệt khẩu. Thế là hành trình hai người truy nhau bắt đầu. Cuối cùng hai người gặp lại ở hiện tại và HE. Kể vậy thôi, chứ truyện đáng đọc lắm!

5. Xấu nữ như cúc – Hương Thôn Nguyên Dã (7/10)

Số chương: 577c

Tóm tắt nội dung: Truyện này rất là dài, và lần cuối Amber đọc thì chưa edit hết nên đang bỏ dở chưa đọc đến cùng. Truyện cũng theo mô típ xuyên không về rồi tìm cách cải thiện cuộc sống gia đình, cuộc sống của những người xung quanh thôi.

6. Thịnh thế trà hương – Thập tam xuân (8/10)

Số chương: 271c + 2PN

Tóm tắt nội dung: Đây là truyện điền văn vô cùng hấp dẫn. Nữ chính xuyên không về làm nha hoàn cho một gia tộc chuyên chế biến và bán chè. Cô bị cuốn vào cuộc tranh đấu giữa đại phu nhân và nhị phu nhân của gia tộc này. Cô phò trợ vị đại thiếu gia có ngoại hình như thiên tiên nhưng lại bị câm, điếc trở thành người chủ chân chính có khả năng chống đỡ công việc làm ăn của gia đình. Mà trong lúc đó không thiếu những kẻ giở trò, quấy phá, chia rẽ hai người.

7. Trọng sinh tiểu địa chủ – Nhược Nhan (7/10)

Số chương: 1015c + 8PN

Tóm tắt nội dung: truyện này tương tự Tú Sắc Nông Gia. Chỉ khác là nữ chính xuyên vào một đứa trẻ. Nàng dùng kiến thức hiện đại để giúp cha mẹ, tỉ muội bớt khổ. Rồi lại giúp gia đình nhà mình làm giàu, kiếm tiền, cải thiện cuộc sống. Nói chung là đúng chất điền văn luôn nhưng mà rất là dài.

8. Tiểu nương tử nhà thợ săn – Nữ vương không ở nhà – (8/10)

Số chương: 89c

Tóm tắt nội dung: Mai tử bị người yêu thanh mai trúc mã phụ nên nàng muốn tự tử. May mà được Tiêu Kinh Sơn cứu kịp. Rồi mơ hồ nàng lại gả cho Kinh Sơn làm vợ. Anh chàng thợ săn có thân thế bí ẩn và cô vợ nhỏ sống vui vẻ nơi rừng núi. Chàng sống bằng nghề đi săn, nếu rảnh rỗi lại tới giúp mẹ vợ làm ruộng. Cho đến một ngày

9. Thê bằng tử quý – Mai Bối Nhĩ (8/10)

Số chương: 9c

Tóm tắt nội dung: Cái này gọi là đoản văn thì đúng hơn vì truyện khá ngắn. Tuy nhiên nội dung thì cũng chỉ toàn truyện lông gà, vỏ tỏi thường ngày. Cô tiểu thư nhà nọ, gả cho Vương phủ làm kế thất của Thế tử. Anh thế tử này lại có một đứa con trai năm tuổi bị tự kỷ. Đứa bé bị tự kỷ không biết nói, không được ai yêu. Thế là mẹ kế mới đến liền ra tay, trị từ kẻ hầu điêu ngoa đến mẹ chồng thiên vị. Mẹ kế và con chồng diễn bài yêu thương thắm thiết. Thế tử thấy vậy cũng nhảy vào khiến cuộc sống một nhà ba người vô cùng vui vẻ, ngọt ngào.

10. Một nhà dưới chân núi – Nữ vương không ở nhà (7/10)

Số chương: 72c

Tóm tắt nội dung: Truyện này đọc lâu quá rồi, Amber chỉ nhớ là nó rất dài. Cốt truyện quen thuộc, không có gì đặc biệt nhưng đúng thể loại điền văn làm ruộng, nuôi gà nhé!

11. Thú – Ngô Niệm (9/10)

Số chương: 60c + 2PN

Tóm tắt nội dung: Thú là câu truyện về thế giới hoang dã. Nữ chính đi du lịch kiểu sinh thái và cả đoàn bị lạc vào một thế giới khác. Ở thế giới này loài vật đều to lớn và nguy hiểm, con người không ở vị trí thống trị. Thống trị thế giới đó là thú biến hình người. Những con thú đến một độ tuổi nhất định sẽ biến đổi thành con người có kích thước to lớn. Nữ chính là người kiên cường, cô dựa vào bản thân mình để tồn tại chứ không ỷ lại vào người khác. Cô thế mà lại quen và được bảo vệ bởi một con hổ trắng. Một người mà một con hổ có thể biến hình người cùng nhau sinh tồn, cùng nhau sống, và xây dựng gia đình nữa nhé! Đáng đọc.

12. Si tướng công – Kính Trung Ảnh (8/10)

Số chương: 72c

Tóm tắt nội dung: Anh chồng trong truyện này bị ngốc, nhưng mờ đẹp trai. Anh này lại còn có năng lực rất là đặc biệt. Amber đọc lâu rồi nên không nhớ chi tiết. Chỉ biết truyện thuộc thể loại cưới trước, thu phục rồi mới yêu đó. Nói chung là rất ngọt ngào.

13. Nam An thái phi truyền kỳ – Bình lâm mạc mạc yên như chức (8/10)

Số chương: 173c+PN

Tóm tắt nội dung: Nam An Thái Phi sở dĩ có thể từ thông phòng lên làm vương phi là bởi vì nàng rất giỏi sinh, một lèo sinh được ba người con trai. Thứ hai là vì nàng rất biết khóc, khóc cho trái tim vương gia phải mềm nhũn. Thứ ba là vì nàng rất biết ăn, chả chê cái gì. Nghe đến đây, chắc bạn cũng đoán được nội dung rồi. Truyện này hay và hài, kết thúc hầu như ai cũng viên mãn cả.

14. Đại quản gia, tiểu nương tử – Nữ vương không ở nhà (7/10)

Số chương: 94c + 1PN

Tóm tắt nội dung: Nữ chính của truyện là một nha hoàn. Nàng muốn gả cho một người tốt, có một gia đình êm ấm và con cháu đầy nhà. Mà người nàng chọn là con trai của một quản sự trong nhà. Cuộc sống của hai vợ chồng trẻ cũng không phải quá suôn sẻ. Chồng nàng từ một chàng thanh niên trở thành một quản gia có tài cũng đã phải trải qua nhiều thất bại. Nhưng từ những thất bại đó, hai người càng gắn bó hơn.

15. Mùa xuân ở căn nhà cũ – Yên Bán Căn

Số chương: 56c

Tóm tắt nội dung: truyện kể về một cô gái ly hôn vì chồng ngoại tình với bạn thân. Cô tới một cù lao hẻo lánh, mua một căn nhà cũ để xây dựng một cuộc sống mới. Ở đây cô gặp một người hàng xóm đặc biệt, một cư dân của cù lao, một đứa con của cù lao. Anh là trẻ mồ côi, được người dân trên cù lao cưu mang nên anh vô cùng nặng nợ với mảnh đất nhỏ giữa sông ấy. Và cô đến, để cùng anh xây dựng nên tương lai của riêng họ.

List truyện hiện đại

List truyện quân nhân

List truyện huyền huyễn

List truyện hay và cảm động

Đi du lịch Tokyo ngắn ngày thì phải đi những chỗ này nhé!

Du lịch Tokyo là phần tiếp theo của bài giới thiệu kinh nghiệm xin visa du lịch Nhật Bản tự túc mà Amber đã giới thiệu với bạn. Lần này Amber giới thiệu những địa điểm du lịch hấp dẫn vòng quanh Tokyo để bạn tham khảo nhé! Những địa điểm này vừa tiêu biểu, đẹp, tiện đi lại và không mất quá nhiều chi phí.

  1. Đền Meiji tại khu Shibuya – miễn phí vé vào

Đền, miếu là nét văn hóa đặc trưng của đất nước Nhật Bản. Nếu đi du lịch Tokyo thì một trong những điểm cần đến là Đền Meiji ở trung tâm thành phố.

Du lịch Tokyo
Du lịch Tokyo – Cổng vào Meiji

 

Thực ra thì đền Meiji cũng không có gì nhiều nhưng lại nổi bật cho kiến trúc tôn giáo tại Nhật Bản. Nguyên cái cổng vào to vật vã cũng đủ khiến người ta trầm trồ. Mà cái cổng này thì bạn có thể tìm thấy tại những nơi thờ cúng trên khắp nước Nhật. Kích cỡ các loại cổng là khác nhau từ khổng lồ đến nhỏ xíu chưa đến 1m đều có.

 

Một điểm đặc biệt nữa là xung quanh đền là những con đường đi bộ giữa rừng cây xanh mướt. Bên ngoài khu ga Shibuya ồn ào náo nhiệt và nóng nực ra sao thì ngay khi bước chân quan cổng đền Meiji là thấy mát hẳn. Giữa thủ đô ồn ã mà có cái khu yên tĩnh, mát mẻ thế thì cũng đáng xem lắm chứ.

Vào đền thì bạn có thể chuẩn bị chút tiền xu rồi đứng xếp hàng trước cửa đền chính đợi đến lượt mình ném đồng xu và cầu khấn. Sau đó bạn có thể ngồi nghỉ ngơi và ngắm đền trước khi thả bộ thong thả đi ra ngoài.

Du lịch Tokyo
Du lịch Tokyo – Đền Meiji

 

Bonus: Amber đi vào đúng hôm trong đền có đám cưới. Người ta tự giác đứng thành 2 bên cho cô dâu, chú rể và họ hàng đi vào trong đền làm lễ. Đi trước là các nhà sư làm lễ, rồi đến một hàng lọng, quạt, tiếp theo là cô dâu, chú rể mặc trang phục truyền thống. Họ hàng thì đi sau cùng. Đó là một cảm giác vô cùng đặc biệt và may mắn nữa. Tại vì hiếm lắm mới có đám cưới được tổ chức ở đây, vì mắc quá.

Du lịch Tokyo
Du lịch Tokyo – đám cưới truyền thống tại đền Meiji

 

2. Khu phố văn hóa Harajuku – thích thì mua, ngắm thoải mái

Ngay khi ra khỏi đền Meiji, bạn chỉ cần sang đường và đi thêm tầm 100m là đến ngay con phố văn hóa nổi tiếng ở Tokyo – Harajuku.

Du lịch Tokyo
Du lịch Tokyo – Harajuku street

Ở nơi đây, ngày nào cũng có những điều mới mẻ để bạn chọn. Đây đó sẽ có những người mặc đồ hóa trang, vác đài và hát nghêu ngao. Ngoài ra bạn có thể thưởng thức cây kẹo bông khổng lồ, bánh crepe thơm ngọt hay ghé một trong những cửa hàng đậm chất nghệ thuật dành riêng cho fan của manga, fan của mèo v.v.

Du lịch Tokyo
Du lịch Tokyo – Kẹo bông

Các cửa hàng quần áo ở đây cũng rất hợp với giới trẻ dù giá không hề rẻ.

3. Núi Phú Sĩ – đi trong ngày

Amber đi thăm núi Phú Sĩ trong ngày bằng xe bus nên không đi chơi được mấy. Nếu bạn có thời gian dài hơn có thể đi suối nước nóng hoặc thăm làng cổ quanh khu vực. Còn Amber thì chỉ kịp đi cáp treo lên cao để ngắm cảnh núi. Sau đó lại xuống hồ đi thuyền quanh chân núi và chụp ảnh các kiểu để chứng tỏ ta đây từng đến Phú Sĩ nhé.

Du lịch Tokyo
Du lịch Tokyo – Fuji Mout

 

Amber đi vào tháng 3, chân lại vừa hồi phục sau phẫu thuật được nửa năm nên không dám đi bộ nhiều, cũng không dám leo núi. Thấy mọi người bảo leo núi hay đi bộ quanh hồ cũng thú vị phết.

Dọc đường xe bus đi ra khu cáp treo đều có các điểm dừng chân để bạn nhẩn nha tham quan.

4. Làng cổ Kawagoe – đi trong ngày

Làng cổ này nằm ở gần Tokyo nên rất tiện tham quan trong ngày. Nếu bạn đi tàu thì mất tầm hơn một tiếng là tới. Ở đây có một con sông nhỏ, hai bên bờ toàn là hoa anh đào, dưới nước thì cá chép bơi thành đàn. Ngoài ra còn có hàng quán theo phong cách cổ ở gần đó sẽ khiến bạn không thể rời chân. Ngay cả Starbuck ở đây nhìn từ bên ngoài cũng chả khác gì một quán trà đạo của Nhật.

Du lịch Tokyo
Du lịch Tokyo – Hoa anh đào ở Kawagoe

 

Du lịch Tokyo
Du lịch Tokyo – Làng cổ Kawagoe

Mọi người đi du lịch Tokyo thường đều đi tàu hoặc xe bus vì tiện và rẻ. Tuy nhiên đa số các biển hiệu, biển chỉ dẫn và tên các ga đều được viết bằng tiếng Nhật. Amber có bạn ở bên đó nên chỉ việc đi theo đuôi người ta thôi. Bạn nào tự đi mà không theo đoàn hoặc không có người quen thì cũng hơi mệt đó.

Ngoài ra thì việc đi bộ ở Nhật là bình thường. Đứa bạn của Amber nói bình thường nó phải đi tầm gần 20 km/ngày (dã man). Amber sang hôm đầu tiên đã đi bộ đến xém xỉu. Nói để bạn chuẩn bị tinh thần thôi chứ đi Nhật là chỉ có thích trở lên nhé!

 

Starbucks đã cứu cuộc đời tôi như thế nào – Chương 3

Chương 3: Lời nói thay đổi cuộc đời tôi

“Người đóng vai trò chất xúc tác cho những kẻ mộng mơ chính là người giáo viên và những người khuyến khích mà họ gặp trong cuộc đời mình. Vì thế đây là lời cảm ơn gửi đến những người thầy.”

THÁNG NĂM

Tôi đứng trong ga Bronxville đợi chuyến tàu lúc 7 giờ 22 phút đến New York. Tôi sẽ bắt đầu ca làm việc của mình lúc 10 giờ 30 phút vào sáng hôm đó – nhưng tôi muốn cho bản thân nhiều thời gian hơn cần thiết. Chuyến tàu từ Bronxville đến ga Grand Central phải mất ít nhất ba mươi phút. Chuyến tàu tiếp theo từ Grand Central lại mất thêm mười đến hai mươi phút để tới Quảng trường Thời Đại. Từ đó tôi sẽ bắt một chuyến tốc hành đến ga số Chín mươi sáu khu phía Tây. Từ ga đó tôi chỉ cần đi qua một tòa nhà là đến cửa hàng. Tôi thấy lo lắng. Tôi vẫn chưa quen với hệ thống giao thông công cộng và cũng không muốn bị muộn giờ làm. Tôi không thể gây một lỗi nhỏ nào trong công việc mới này.

Lúc đợi tàu vào buổi sáng tháng Năm đó, tôi đã có cơ hội nhìn xung quanh Bronxville. Khu vực ngoại thành nhỏ bé này đã thay đổi rất nhiều trong vài ngày qua khi những cơn mưa rào tháng Tư báo hiệu những bông hoa tháng Năm nở rộ. Giống như trong câu truyện Phù Thủy xứ Oz, mùa đông với màu đen và trắng đã đi và mùa xuân rực rỡ đã đến. Giờ đây có hàng mảng hoa tu-líp đỏ và trắng khắp mọi nơi – rực rỡ với những chủng loại phong phú. Mai vàng đất thì nở bung những nhánh hoa vàng. Cây cối bắt đầu nhú lộc xanh trông như một làn khói mỏng đối ngược với bầu trời buổi sáng màu xanh trong vắt.

Tôi thở dài và sau đó bắt đầu nức nở nhè nhẹ. Nước mắt lăn thầm lặng xuống má khi tôi cố nén chúng lại. Tôi không muốn thành tiêu điểm chú ý trong đám những con người tràn đầy năng lượng đang chuẩn bị đi làm. Những người đàn ông và phụ nữ mặc những bộ công sở hiệu Brooks Brothers đang tràn ngập sự hưng phấn và tự chúc mừng bản thân mà tôi nhìn chỉ thấy phát ốm.

Tôi ghen tị với họ vì sự tự tin trong cuộc đời họ.

Tôi ghét họ bởi sự thoải mái mà họ có khi đối mặt với quãng đường đi làm.

Tôi biết tôi gần như vô hình đối với họ. Mặc chiếc quần đen, áo sơ mi và đội mũ Starbucks, tôi trông như một kẻ làm công – mà đó cũng chính là chức danh của tôi bây giờ. Tôi chỉ là một người khác trong đám người xuất hiện vào những khoảng thời gian bất thường để tham gia vào cuộc đua đến chỗ làm – nhưng tôi lại chuẩn bị làm cái công việc chân tay mà những Kẻ thống trị thế giới chả thèm quan tâm.

Tôi cố lau nước mắt nhưng chúng vẫn rơi không ngừng. Có lẽ đây là một loại dị ứng với phấn hoa đang ngập tràn trong không khí chăng? Nhưng tôi biết không phải vậy.

Có cái gì đó không đúng và đáng buồn về việc tôi đứng ở sân ga này để đợi tàu đi làm trong khi đang mặc một bộ đồng phục sau nhiều năm kể từ ngày tôi đặt chân đến thị trấn này. Sau khi mẹ tôi sinh thêm vài đứa con nữa (dường như bố tôi rất muốn có một đứa con trai nữa vì tôi là một sự thất vọng với ông ấy nên ông mới cố gắng đến vậy), bố tôi đã quyết định rời khỏi khu thành thị.

Ông đã chọn một thái ấp lớn kiểu Victoria ở Bronxville bởi vì nó gần với khu thành phố và một trường công tốt. Nhưng Bronxville không phải là một nơi hạnh phúc đối với tôi.

Trên đường đến trường mỗi ngày, một kẻ chuyên bắt nạt tên là Tony Douglas đều nhảy ra khỏi một bụi cây nào đó, đẩy tôi ngã và vặn cánh tay tôi đến khi tôi khóc. Thật xấu hổ khi đã tám, chín tuổi rồi mà vẫn còn khóc – nhưng tôi còn không thể phản kháng. Tôi biết khóc là cách duy nhất khiến hắn dừng lại. Thằng bé đó làm tôi rất đau. Nó còn khiến tôi sợ hãi. Nó suýt làm gẫy tay tôi. Vào mùa đông, nó sẽ dí mặt tôi xuống tuyết đến khi tôi van xin nó. Tôi đã phải van xin thì nó mới thả tôi ra. Sau đó nó sẽ đứng dậy và vừa chạy biến đi vừa cười. Tôi sẽ từ từ đứng dậy, thấy rất đau và cố nhặt lại sách vở.

Một vấn đề nữa là tôi không biết đọc. Và đó là một lý do khiến tôi thấy thật bất hạnh khi ở Bronxville. Khi tôi đến trường, tôi còn phải chịu nhiều tủi nhục hơn. Dù cố gắng đến mấy tôi cũng không thể đọc được. Tôi thực sự đã rất cố gắng. Tất cả bạn cùng lớp tôi đều học được. Thật là kinh khủng khi phải ngồi giữa lớp học mà không thể nhìn thấy những gì người khác thấy và không thể đọc những từ mà các bạn khác rất tự hào đọc to. Những từ trong các cuốn sách mà giáo viên đưa cho tôi dường như được tạo ra theo một mã bí mật mà tôi không thể giải được. Những câu chữ cứ nhảy lên trước mắt tôi. Tôi cố ép bản thân tôi phải giải mã số nhưng tôi chỉ có thể đoán nghĩa của những dòng màu đen đó.

Tôi đã cảm thấy thật kinh khủng khi một mình đối mặt với cái bằng chứng của sự ngu ngốc của bản thân và sự bất lực cũng như khốn khổ rành rành đó.

Sự thất bại của tôi thực sự là không thể lờ đi được.

Cô Markham là Hiệu trưởng của ngôi trường tiểu học. Và đó là một người khủng khiếp. Cô ấy mặc áo véc đen, thường đi dọc hành lang và đưa ra các mệnh lệnh bằng một giọng trầm.

Tôi khiến cô ấy chú ý.

Cô ấy đã gọi bố mẹ tôi đến để nói chuyện.

Mẹ tôi thì rất xấu hổ còn bố tôi thì rất giận. Tôi đã phá hỏng ngày hôm đó.

“Sao cô ấy không hẹn gặp chúng ta vào lúc khác?” bố tôi hỏi mẹ. “Cuộc họp vào ngay giữa buổi sáng!”

Vì một lý do nào đó cô Markham lại bênh vực tôi. Cô ấy tin rằng tôi sẽ ổn cả thôi mặc cho cả đống dấu hiệu cho thấy điều ngược lại. Cô ấy còn kiên quyết cho tôi tham dự cuộc họp của cô với bố mẹ tôi.

“Tôi chưa bao giờ nói điều gì về bọn trẻ sau lưng chúng,” cô ấy giải thích.

Ngay trước mặt tôi, cô ấy nói với bố mẹ tôi rằng “Michael sẽ đọc khi thằng bé muốn. Vì thế hãy ngừng làm phiền nó.”

Tôi choáng váng khi cô ấy thẳng thắn như vậy trước mặt bố mẹ tôi. Vì cô ấy rõ ràng là đang phản đối họ. Tôi luôn được bảo rằng bố mẹ tôi tuyệt vời như thế nào. Còn cô ấy thì dường như lại nghĩ rằng tôi phải được bảo vệ khỏi họ.

Niềm tin tưởng phi lý đó hóa ra lại đúng, mặc dù khả năng đọc không đến với tôi như một hành động của sự tập trung cao độ hoặc ham muốn đến hoảng sợ mà chỉ là một quá trình nhẹ nhàng và dễ dàng vào mùa hè năm tôi mười tuổi.

Mỗi mùa hè chúng tôi đều rời Bronxville đến một thị trấn miền quê nhỏ ở khu vực núi tại Connecticut. Mẹ tôi thấy hạnh phúc hơn khi ở đó. Bà đã đến Norfolk vào mùa hè khi còn trẻ và vẫn còn nhiều người bạn thời trẻ của bà đi nghỉ hè ở đó. Bạn thân nhất của bà có một ngôi nhà chỉ cách nhà chúng tôi vài thửa ruộng và con trai cô ấy cũng thành bạn thân nhất của tôi. Chúng tôi đạp xe dọc những con đường đầy bụi và đi bơi ở một cái hồ nhỏ.

Mẹ tôi sẽ đánh thức tôi dậy vào sáng sớm để tôi có thể ngắm những giọt sương lấp lánh ánh mặt trời.

“Đó là trang sức của những nàng tiên”, bà nói và ôm tôi với niềm vui sướng. “Có thứ gì đẹp hơn một buổi sáng mùa hè ở Norfolk không?

Thỉnh thoảng bà sẽ đánh thức tôi vào ban đêm khi tôi đã đi ngủ rồi nắm lấy tay tôi và dẫn tôi ra ngoài ngắm trăng.

“Nó quá đẹp phải không?” bà nói với niềm vui ánh lên trong giọng nói.

Nhưng khoảnh khắc hạnh phúc nhất của tôi là khi ngồi với mẹ trên một tấm thảm ủ ấm và bà đọc cho tôi nghe. Xuyên qua cánh đồng, tôi có thể thấy một hàng bạch dương. Lá của chúng đung đưa trong gió nhẹ… Trong một khoảnh khắc chúng màu xanh rồi lại chuyển sang màu bạc dưới ánh mặt trời của một buổi chiều cuối hè.

Chúng tôi ở trong một căn nhà nhỏ được xây bởi ông ngoại tôi giữa một cánh đồng rộng lớn và quay lưng lại một cánh rừng bất tận nơi chưa có cái cây nào bị chặt hoặc bị chạm đến trong vòng một trăm năm. Hàng ngàn dặm rừng đã bị bỏ lại vĩnh viễn. Khu vực đất rừng tách biệt đó chính là nơi ẩn náu cho tôi. Tôi thường đi loanh quanh với cung và mũi tên rồi tự nhủ với bản thân là tôi sẽ bắn một cái gì đó (mặc dù tôi chưa từng làm thế). Sự im lặng của những cái cây cao tuổi, mùi thông và dương xỉ nhẹ nhàng sẽ an ủi tôi.

Tôi cũng thích miền quê vì ở đó tôi sẽ có thời gian ở cạnh bố mình. Ở Bronxville, ông ấy bận rộn sửa sang lại một cái trang ấp có ba mươi lăm phòng và nổ rằng “Đây là ngôi nhà lớn nhất mà bất kỳ ai trong gia đình từng sở hữu.”

Ông ấy mua được căn nhà này bằng cách bán căn nhà bằng gạch xám của chúng tôi ở đường Bảy mươi tám và đổ hết tiền vào đây. Tổng diện tích mái ngói phải sửa sang lại lên đến cả mẫu. Ông ấy xây một cái thư viện hai tầng. Tôi nghe lỏm thấy ông ấy nói với bạn mình là “Tôi luôn muốn có một cái thư viện riêng với một cái thang giống như thế này,” rồi mô tả một cái thang có thể di chuyển để với tới những tầng cao nhất của giá sách.

Ông ấy có những số báo cũ của tờ tạp chí Người New York. Tôi sẽ trèo lên cái thang để lấy những tờ báo này xuống. Nó giống như tôi đang đi làm cùng bố mình mặc dù ông ấy hầu như chẳng bao giờ ở nhà. Mặc cho niềm tự hào đối với ngôi nhà, ông ấy dường như luôn háo hức được đi ra ngoài và trở lại cuộc sống ở thành thị của mình. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy ông ấy đến thư viện của mình, đọc một cuốn sách hay chỉ là ngồi xuống. Một khi chuyển đến Bronxville, ông ấy càng dành ít thời gian cho tôi và gia đình. Ông ấy sẽ ra ngoài vào sáng sớm và trở về nhà sau khi tôi đã đi ngủ vào buổi tối.

Nhưng tôi lại thích đọc những tờ Người New York cũ – những mẩu hoạt hình và thậm chí cách các cột báo được sắp xếp trong một trang. Mặc dù tôi không thể hiểu chúng có nghĩa gì, tôi vẫn có thể cảm nhận được cái mà bố tôi luôn tự hào được là một phần của nó.

Một buổi chiều ở vùng quê, tôi đến căn nhà nhỏ và đi dạo quanh khu rừng. Mẹ tôi thì đang ngủ trưa còn em gái tôi, những đứa mà làm gì cũng có nhau, thì đang chơi với bạn chúng nó. Tôi ở một mình trong phòng khách cũ. Tôi mở một cuốn sách cổ. Vì đây là một ngôi nhà nhỏ cho kỳ nghỉ hè thế nên hầu hết những cuốn sách đều được mang đến từ nhiều thập kỷ trước và bị bỏ lại ẩm mốc trên giá sách.

Tôi chọn một cuốn sách rất dày nhưng lại có hình. Tôi mở đến một trang có hình.

“Tướng Grant,” tôi đọc. Tôi thế mà lại có thể đọc tên ông ấy. Tôi có thể đọc! Đầu tiên là vài từ và sau đó ngày càng nhiều từ hơn. Đột nhiên những con chữ in màu đen đều có nghĩa trong đầu tôi.

Tôi không nói với bất kỳ ai, nhưng đến khi chúng tôi trở về Bronxville vào mùa thu, tôi đã học được rất nhiều chữ. Tôi thậm chí còn tự tin để đọc bài ở trường.

Mặc dù đến tận lớp sáu tôi mới có thể làm được cái việc mà bạn bè mình đã làm được từ lâu, Cô Markham vẫn rất hài lòng. Tôi đã chứng minh niềm tin điên rồ của cô.

Vào một buổi chiều trước khi kết thúc năm học đó, Cô Markham đã mời tôi đến nhà cô. Khi tôi học hết lớp sáu, tôi sẽ lên lớp bẩy và cũng học ở tòa nhà gạch to lớn đó. Nhưng năm sau thì tôi sẽ lên cấp hai và sẽ rời khỏi trường của cô, nơi mà rõ ràng là Cô Markham đang có quyền kiểm soát.

Cô ấy sống với một người phụ nữ nữa trong một ngôi nhà lớn ở gần trường.

Cô ấy mời tôi uống trà.

Rồi cô ấy lấy ra một tờ giấy ghi chép và cho tôi xem. Chữ của cô to và cứng cáp.

“Đọc nó đi,” cô hướng dẫn bằng giọng sang sảng.

“Michael Gates Gill đã được định sẵn là sẽ trở nên vĩ đại,” tôi đọc.

Tôi ngước nhìn. Đây có phải là một bài thi không? Liệu có phải tôi vừa mới vượt qua một kỳ thi đọc nào đó?

“Còn gì nữa không ạ?” tôi hỏi và rất háo hức được đọc thêm cho cô ấy. Nếu không có cô ấy tôi có lẽ đã phải đi đến ngôi trường nào đó dành cho “học sinh đặc biệt” như bố mẹ tôi đã từng thảo luận.

“Hết rồi,” Cô Markham nói rồi rướn người lên phía trước để cầm tay tôi.

Tôi để ý thấy cô có hàng lông mày dày và đôi mắt màu nâu rất sáng.

“Cô đã quyết định,” cô ấy nói. “Con, Michael,” cô ấy tiếp tục như thể đang thực hiện một thông báo chính thức và công khai, “được định sẵn cho sự vĩ đại. Cô không quan tâm con làm gì, hay không làm gì. Cô không quan tâm nếu con đi học tại một ngôi trường đại học danh giá hay không. Cô chỉ biết rằng: Con thật vĩ đại.”

Cô ấy ngồi lại, thả tay tôi ra và cười với tôi.

Tôi không biết phải nói gì và tôi cũng không thực sự hiểu ý của cô ấy.

Cô ấy rướn người về phía trước và lặp lại. “Cô hầu như ít khi làm việc này,” cô ấy nói, “nhưng cứ mỗi vài năm thì cô lại thấy một người trẻ tuổi có những khả năng khác biệt. Cô muốn con biết rằng mình đáng giá. Chính con chứ không phải việc mà con làm.”

Đáng giá ư? Tôi nghĩ, nhưng mà thế nghĩa là gì?

“Có lẽ bây giờ con chưa hiểu ý nghĩa của dòng ghi chú này,” cô ấy nói khi cảm nhận được sự bối rối và sự lơ mơ của tôi, “nhưng hãy cất nó trong một ngăn tủ nào đó. Lấy nó ra mỗi năm và đọc nó lên. Vì giờ con đọc được rồi mà!”

Cô ấy cười và sau đó lại trở nên nghiêm túc. Tôi chỉ là một cậu bé con và cô ấy biết cô ấy vẫn chưa khiến cho tôi hiểu được.

“Con chưa từng nghĩ mình có thể đọc được đúng không?” cô ấy hỏi tôi bằng một giọng mềm nhẹ.

“Đúng ạ,” tôi nói.

“Nhưng cô thì biết,” cô ấy nói. “Và cô biết rằng con vĩ đại. Nhưng con thì lại không biết điều đó phải không?”

“Đúng ạ.”

“Đấy, chỉ cần nhớ là cô đã nói với con như vậy.”

Tôi vẫn nhìn ngơ ngác.

Tôi không quen bất kỳ ai trong những người đã đến thăm nhà Cô Markham và cũng chưa từng nói chuyện riêng với cô. Có lẽ vì thế mà tôi cảm thấy rất ngại ngùng. Mặc dù tôi thấy ngại ngùng với tất cả mọi người. Tôi biết cô ấy muốn tôi nói cái gì đó để đáp lại những gì cô ấy đã nói với tôi. Đó rõ ràng là một món quà tuyệt vời. Tôi có thể cảm nhận tình cảm và sự ủng hộ của cô ấy. Nhưng tôi lại chẳng biết phải nói gì.

“Anh trai cô,” cô ấy nói, một cách nhẹ nhàng không giống cô ấy chút nào, “là một kẻ nghiện rượu. Nhưng anh ấy có rất nhiều tài năng. Cô đã không thể giúp anh ấy. khi cô nghĩ lại cô thấy có lẽ anh ấy chưa bao giờ biết rằng mình tuyệt vời thế nào.”

Có phải cô ấy đang khóc không?

“Hãy giữ lấy tờ giấy này,” cô ấy nói, giọng nặng cảm xúc. “Hãy giữ nó.”

Cô ấy đứng lên và đưa tôi ra cửa, và một lần nữa cô ấy lại trở lại là Cô Markham đầy năng lượng, thuộc phái hành động và đầy sự linh hoạt mà tôi biết.

Chúng tôi bắt tay một cách khá là trịnh trọng.

Tôi rời đi, và vì một lý do gì đó đã dừng lại ở góc đường và nhìn lại.

Cô ấy đang nhìn tôi.

Cô ấy vẫy tay.

Tôi vẫy tay lại.

Tôi đã giữ mẩu giấy đó của Cô Markham trong vài năm nhưng rồi làm mất nó khi đi học đại học vì mẹ tôi đã vứt khá nhiều đồ cũ của tôi đi. Nhưng tôi vẫn luôn nhớ buổi chiều rực rỡ đó.

Tôi gặp lại cô một lần sau khi tốt nghiệp đại học, ở Bộ phận quản lý xe cộ nơi mà cả hai đều đến để gia hạn bằng lái của mình.

Cô đã nghỉ hưu, già đi và tóc cô đã bạc.

“Michael,” cô gọi tôi qua sảnh phòng đợi cũ kỹ.

Giọng cô vẫn như vậy.

Tôi đứng lên để đến chỗ cô.

Cô cũng đứng lên và đi về phía tôi.

“Con dạo này thế nào?”

“Tốt ạ,” tôi nói. “Con đã tốt nghiệp đại học Yale.”

“Con không cần phải đến bất kỳ trường đại học nào,” cô ấy nói. “Có còn nhớ mảnh giấy cô cho con không?”

“Có ạ.”

“Cô cũng vẫn còn nhớ!” cô ấy nói, và nở một nụ cười. “Không phải những gì con làm mà chính việc con là người như thế nào mới vĩ đại.”

Lúc đó người ta gọi tên tôi và tôi đi đến quầy thủ tục để điền giấy tờ và chụp ảnh. Khi tôi hoàn thành thì cô đã đi mất rồi. Tôi cũng chưa bao giờ cố gắng để gặp lại Cô Markham.

Ngay cả khi đã hai mươi mấy tuổi và đứng ở văn phòng Bộ phận quản lý xe cộ, tôi vẫn không thể chắc về việc làm thế nào đáp lại niềm tin mà cô ấy có với tôi. Tôi không có lời nào để nói với cô cả. Nhưng tôi đã được động viên bởi niềm tin mà cô có đối với tôi và tôi đã tìm được tình yêu với ngôn ngữ.

Cô Markham có thể đã đoán được những gì sẽ xảy ra. Sau khi tôi học cách đọc tôi đã trở nên yêu thích các cuốn sách. Tôi khám phá thế giới mà những câu từ có thể đưa tôi tới. Bắt đầu từ khi tôi lên mười thì mỗi ngày tôi đều dành hàng giờ để đọc sách. Tôi thích trốn trong thế giới của những con chữ và những cuốn sách.

Cuộc sống của tôi lúc đó rất cô đơn. Cha tôi ghé qua vào mỗi cuối tuần trong mùa hè nhưng vào mùa đông thì ông ấy quá bận rộn để có thể dành thời gian cho tôi.

Tôi có vài người bạn nhưng đối với tôi thì có một cái gì đó kinh khủng về cái thị trấn ngoại thành ưu tú này. Ở thành phố New York, kể cả khi Nana rời bỏ tôi và tôi cảm thấy cô đơn thì tôi vẫn có thể nhìn ra ngoài cửa sổ ngôi nhà để ngắm người ta đi qua lại bên ngoài. Có người già, trẻ con, cảnh sát đi tuần tra, những cô cậu thanh niên chạy dọc khu phố.

Ở Bronxville, trong ngôi nhà rộng lớn của chúng tôi thì chả có ai thèm đi qua… mà chỉ có cảnh một chiếc xe vụt qua hàng rào cao của nhà chúng tôi và tiếng bánh xe ma sát đánh kít khi rẽ ở góc đường.

Tôi thấy thoải mái hơn khi ở vùng quê. Ở Norfolk,  thỉnh thoảng vào cuối tuần, bố tôi sẽ để tôi đẩy xe cho ông khi chơi golf. Và khi ông tới khu hồ với gia đình thì tôi có thể dành cả ngày đi theo ông.

Ông sẽ gọi với theo và mời Jay Laughlin, người đàn ông sở hữu khu cắm trại bên cạnh, khi ông ta bơi ngang qua, “Ra khỏi chỗ ẩm ướt đó và tìm chỗ nào khô ráo làm một ly Martini nhé”.

Jay cũng giống bố tôi khi dành cả cuộc đời cho văn học. Ông ta là nhà sáng lập của công ty xuất bản Những hướng đi mới. Nhưng không giống bố tôi, ông ấy rất u ám và hiếm khi cười. Chỉ có ở trước mặt bố tôi thì Jay sẽ phá lệ cười to.

Rất nhanh, bố tôi đã tụ tập được một đám ngồi đó và cười theo những lời nói đùa của ông còn tôi có thể chìm đắm trong sự hiện diện của ông và không khí tươi vui mà ông tạo ra. Với tôi thì khi bố tôi ở cùng với những người cùng tuổi với mình, ông là người hài hước nhất thế giới.

Với tôi, ông vừa kỳ quặc vừa đáng yêu theo cách riêng.

Thỉnh thoảng ông sẽ hát cho tôi những bài hát mà ông nội đã hát cho ông nghe. “Cậu bé hát rong.” “Cậu bé rối gỗ”. Những làn điệu Ai-len cổ xưa. Những lần khác, trong các bữa ăn gia đình và khi thấy buồn chán, ông sẽ trích dẫn thơ cho chúng tôi nghe. Toàn những bài thơ buồn. “Chẳng có gì để tự hào nhìn lại,” ông ngâm nga câu thơ từ bài “Cái chết của người đàn ông làm thuê” của Robert Frost. “Đó không phải một cái nhìn cuộc đời buồn bã sao?” ông ấy hỏi mọi người trên bàn nhưng tôi sẽ giữ im lặng.

Khi còn là một cậu bé tôi thực sự không có ý tưởng gì về những thứ ông ấy đang nói.

Thậm chí sau này khi học tại Yale, khi gặp Robert Frost, tôi vẫn không thể hiểu được sự buồn bã trong thơ của ông. Tất nhiên Robert Frost cho mọi người thấy mình là một quý ông miền quê vui vẻ. Tôi vẫn nhớ mình đã chạy từ lớp học đến một bữa tiệc rượu vang dành để vinh danh nhà thơ nổi tiếng này. Tôi không phải thay quần áo vì giống như các sinh viên đại học khác, tôi mặc áo khoác và thắt cà vạt. Yale lúc đó chưa bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến tranh Việt Nam và niềm vui của sự chuyển giao sang một nền giáo dục bình đẳng cho nam và nữ. Chúng tôi vẫn được bao bọc trong một thứ hổ phách được bảo quản hoàn hảo của một môi trường cổ xưa nơi mà Dink Stover và những quý ông ăn mặc lịch lãm của Yale từ vài thập kỷ trước vẫn còn có ảnh hưởng lớn. (Dink Stover là nhân vật chính của một cuốn sách viễn tưởng bán chạy cùng tên được xuất bản đầu thế kỷ hai mươi và vẫn được tái bản ngày nay. Dink là một vận động viên hàng đầu nhưng vẫn rất lịch thiệp. Hơn hết, Dink Stover hành xử như một quý ông thực thụ. Cao trào của cuốn sách đó là khi tính cách vĩ đại vốn có của Dink được công nhận khi ông ấy bị ảnh hưởng bởi hội kín Đầu lâu & Xương của trường). Giáo sư của tôi gọi tôi là “Ông Gill”, và giáo viên tiếng Anh của tôi đã mời tôi tới “uống một ly rượu vang với Robert Frost.”

Giáo sư Waite đón tôi ở cửa và hối tôi đi vào. Đã có khoảng nửa tá sinh viên đứng quanh một người đàn ông cao lớn ở giữa căn phòng. Frost mặc một cái áo khoác len dầy và trên đầu ông là một đám tóc trắng mà bằng cách thần kỳ nào đó trông như vừa bị gió thổi mặc dù chúng tôi đang ở trong khu vực sảnh ấm sực của khoa.

Ông chào đón tôi với một cái ôm mạnh mẽ và đôi mắt cười.

Chẳng có ai trong chúng tôi hỏi ông về tác phẩm của ông. Bởi vì thật không lịch sự khi làm thế trong hoàn cảnh này. Nó giống như hỏi một bác sỹ đưa ra chẩn đoán khi đang nói chuyện với ông ta trong một bữa tiệc rượu.

Trên thực tế, tôi chưa bao giờ nhớ đã thảo luận về thơ ca và việc viết lách với bất kỳ nhà thơ nào mà tôi đã gặp ở Yale. Khi ngồi uống với W.H. Auden ở quán Mory’s, chúng tôi sẽ thảo luận cách thích hợp để tạo ra một loại đồ uống nào đó. Khi tôi được mời đến gặp T.S. Eliot, người đã đến New Haven để giảng bài vào một buổi tối, thì giáo sư của tôi, Norman Holmes Pearson đã đặc biệt dặn dò, “Đừng hỏi ông ấy bất kỳ câu hỏi nào. Có tin đồn rằng ông ấy bị ung thư và đang đi vòng quanh giảng bài để có tiền cho vợ ông ấy.”

Khi Donald Hall, nhà thơ vừa mới đoạt giải đến thăm New Haven, tôi đã được yêu cầu đưa ông ấy ra ngoài ăn tối. Chúng tôi cuối cùng dành cả đêm để uống với đám sinh viên say khướt – điều mà ông ấy khá là hài lòng. Một lần nữa chủ đề về thơ của ông ấy hay bất kỳ bài thơ nào không được nhắc đến.

Một phần của quy định xã hội bắt buộc ở Yale cũng giống như ở nhà tôi là không được hỏi quá nhiều câu hỏi trực tiếp.

Vì vậy khi là cậu bé con đang trưởng thành, tôi sẽ chẳng bao giờ hỏi bố tôi ý nghĩa của việc ông trích dẫn thơ Frost hay thơ của bất kỳ ai. Tôi là một khán giả dễ tiếp nhận và tôi không cần phải làm gì hơn.

Hầu như ngày nào bố tôi cũng đều nói, “Ở lại với anh đi người đẹp vì ngọn lửa đang lụi tàn.”

Tôi từng hỏi ông điều đó nghĩa là gì.

“Đó là một câu trong một bài thơ,” ông luôn trả lời như vậy. Tôi không thực sự nhận ra cái điều kinh khủng mà bố tôi đã phải sống cùng cho đến khi bố tôi mất. Mặc dù có một vài ám chỉ cho cái bi kịch mà ông đã phải chịu đựng.

Vào sinh nhật thứ bẩy của tôi, khi mẹ chuẩn bị một bữa tiệc cho tôi sau khi tan học với bóng bay, bánh ngọt và thậm chí vài người bạn của tôi cũng có mặt thì bố tôi lại đột ngột về nhà sớm và thấy chúng tôi quây quần bên nhau cười nói trong phòng ăn.

Ông bước vào phòng và tất cả đều im lặng. Sự xuất hiện của cha tôi tạo ra áp lực và với đôi mắt màu đen lớn ông rõ ràng là đang giận.

Ông định nói gì đó.

“Vâng, anh yêu?” mẹ tôi nói. Bà luôn lo lắng khi để ông tham gia vào các hoạt động của gia đình. “Mọi người chuẩn bị một bữa tiệc nhỏ chúc mừng Gates bé bỏng tròn bẩy tuổi.”

“Mẹ tôi chết khi tôi mới bẩy tuổi,” bố tôi nói và sau đó rời khỏi phòng.

Mẹ tôi theo ông ra ngoài.

Tôi không nhớ những gì bạn tôi và tôi nói khi đó, nhưng tôi nghĩ chúng tôi tiếp tục chơi với những món quà mà mẹ đã chuẩn bị.

Nhưng rõ ràng là bố tôi không cảm thấy thoải mái khi nói chuyện hay thậm chí là ở cùng một chỗ với tôi.

Tôi từng nghe lỏm được ông nói với mẹ, “Tôi không thể đợi đến khi Machael Gates trưởng thành để tôi có thể nói chuyện đàng hoàng với nó.”

Nhưng – mặc cho sự khó chịu rõ ràng với tôi và mẹ tôi – ở miền quê và vào dịp cuối tuần, bố tôi gắn bó nhiều hơn với gia đình hơn là khoảng thời gian ở Bronxville.

Và vào những ngày trong tuần khi bố tôi “làm việc vất vả ở thành phố” thì chúng tôi có thể bơi và đi dạo trong rừng để ngửi hương thông và thưởng thức không khí Norfolk trong lành – đầy hương vị đồng cỏ và rừng cây – vào buổi tối khi đi ngủ.

Và mỗi tối khi đi ngủ tôi đều cười, nghĩ rằng mẹ có lẽ sẽ đến đánh thức tôi và dẫn tôi đến với “mặt trăng” của bà.

Nhưng Bronxville lại chả có tí hấp dẫn nào đối với tôi.

Làm sao mà tôi lại ở đây … đứng ở sân ga Bronxville … sống trong một căn hộ bé tí thay vì một trang ấp rộng lớn… không có gia đình hay bạn bè chứ? Tôi lại càng cố lau nhiều nước mắt hơn.

Một khi tôi có được việc làm ở Starbucks, tôi đã cố tìm một căn hộ khác gần cửa hàng và nhận ra rằng tôi chẳng đủ khả năng để trả tiền cho bất kỳ chỗ nào.

Tôi bắt đầu tìm kiếm ở khu Manhattan. Rồi tôi chuyển dần lên phía thượng của khu Thượng phía Tây, vượt qua Bronx, Mount Vernon và tôi thậm chí đã bắt đầu nghĩ đến tận Brewster. Chẳng có chỗ nào gần thành phố hơn mà tôi có thể trả nổi.

Một ngày khi đang trên đường đi tìm nhà trọ, tôi dừng lại ở Bronxville để ăn một cái bánh hăm-bơ-gơ tại một cửa hàng của một người bạn cấp ba. Phil nói với tôi anh ấy vẫn giữ lại ngôi nhà của bố mẹ và nó có một căn gác xép nhỏ ở tầng ba.

“Căn nhà nằm ngay cạnh đường ray xe lửa,” Phil nói với tôi, “nhưng nó thật sự rất tiện lợi và tôi sẽ cho anh thuê với giá tốt.”

Tôi bắt ngay lấy cơ hội đó. Một căn phòng nhỏ hợp với tôi. Tôi thích leo lên những bậc thang cũ kỹ và sống trong căn gác xép của một căn nhà cũ.

Tàu đã đến.

Tôi lên tàu, trộn lẫn đằng sau một đám người như những con hải ly hào hứng. Tôi biết rằng việc ủ rũ không phải là một cách tốt để bắt đầu một ngày và vì thế tôi cố gắng nhớ lại những kỷ niệm đẹp tại Bronxville.

Cha tôi tổ chức vài bữa tiệc lớn mỗi năm ở ngôi nhà của chúng tôi ở Bronxville. Ông ấy luôn tìm cách giới thiệu tôi với một ai đó mà tôi có thể thấy hứng thú. Khi tôi còn nhỏ, tôi đã từng gặp E.B. White bởi vì tôi đã rất yêu thích Stuart bé nhỏ. E.B. White vô cùng nhỏ bé, tốt bụng và tò mò. Giống hệt Stuart bé nhỏ.

Sau đó khi tôi lớn hơn, bố tôi mời Brendan Behan, nhà soạn kịch nổi loạn người Ai-len đến nhà để tôi có thể gặp mặt. Tôi yêu Behan vì những bài hát điên rồ của ông ấy về những cái chuông của địa ngục có thể kêu “Ting a ling a ling cho anh chứ không phải cho tôi.”

Tôi tự nhủ với bản thân rằng tôi cũng đã có khoảng thời gian tốt đẹp ở Bronxville. Nhưng tôi phải thừa nhận rằng những bữa tiệc lớn đó và cả những nhân vật văn chương nổi tiếng đều hầu như chả có ý nghĩa gì với tôi. Tôi thích có nhiều thời gian với bố mình hơn.

Ở tuổi sáu mươi tư, tôi nhắc nhở bản thân rằng tôi sẽ sớm chết thôi … giống những bài hát của Behan. Liệu tôi có muốn dành phần thời gian còn lại của mình để than khóc cho quá khứ hay không? Đã đến lúc phải phấn chấn lên để đối mặt với một vài năm ngắn ngủi còn lại trong đời.

Vì một lý do nào đó mà lúc đó tôi đã cố gắng bí mật ghi lên cái ghế tôi đang ngồi trên đường đến chỗ làm mới ở Starbucks một câu nói của F.Scott Fitzgerald “Không có cơ hội thứ hai ở nước Mỹ.”

Liệu tôi có đang thực hiện một nhiệm vụ vô vọng để bắt đầu một cuộc sống mới? Không phải cái cuộc sống mưu sinh bây giờ chính là cái mà tôi đã từng coi thường và một dấu hiệu của việc tôi đã đi sai đường?

Tôi hít thật sâu, ngôi thẳng trên ghế và cố gắng nghĩ thông suốt.

Tôi cảm thấy tôi thực sự thích làm việc với Crystal. Thật khó khăn để thừa nhận nhưng bằng nhiều cách tôi thực sự thích làm việc ở Starbucks hơn khi còn làm việc cho JWT.

Thành thật đi Mike, tôi nghĩ, tự gọi bản thân bằng cái tên được dùng cho tôi ở Starbucks. Mày thấy tốt với những gì đang làm. Chỉ bởi vì mày mặc một cái tạp dề xanh hơn là bộ quần áo hiệu Brooks Brothers không có nghĩa là mày không thể thưởng thức điều đó.

Tôi thực sự đã phá lên cười.

Âm thanh hạnh phúc đó khiến những người khác nhìn tôi.

Họ thậm chí đã chẳng để ý đến tôi đã khóc nhưng cười thì đúng là thứ kéo sự chú ý.

Khi đến ga Grand Central, tôi đã thực sự cảm thấy tốt. Tôi xuống khỏi tàu và cố đi đằng trước dòng người di chuyển lên trên. Rất ít, thậm chí chẳng có ai sẽ đi cùng tôi đến Quảng trường Thời đại để đến khu Thượng phía Tây.

Khi ép mình vào chuyến tàu, tôi thấy mình tự tin hơn.

Chả có gì sai khi làm việc ở Starbucks cả, tôi tự nói với bản thân, và điều đó còn rất đúng đắn nữa. Giờ tôi có thể tự trả tiền cho căn phòng nhỏ của mình. Nó không phải là trang ấp rộng lớn mà tôi đã từng ở hay ngôi nhà thôn quê xinh đẹp ở khu New England mà tôi sống với vợ trước và con nhưng nó giờ là nhà của tôi. Một căn phòng cho riêng tôi.

Chuyến tàu nhanh đưa tôi đến con phố Chín mươi ba.

Tôi trèo lên các bậc thang dốc để vươn tới … ánh mặt trời. Đó là một ngày đẹp ở thành phố New York… một trong những ngày mùa xuân hiếm có khi mà không khí cũng thực sự lấp lánh.

Tôi nhìn thấy cái biển hiệu màu xanh của Starbucks ở góc đường Chín mươi ba và hướng đến đó với niềm lạc quan lớn dần.

Một câu nói nữa của Fitzgerald xuất hiện trong đầu tôi. Đó là những dòng ông ấy viết cho con gái mình sau khi vợ ông ấy qua đời trong một đám cháy ở bệnh viện tâm thần tại Ashville, Bắc Carolina sau nhiều năm suy sụp. Zelda, vợ ông chưa bao giờ thực hiện được những lời hứa trước đó và Fitzgeralk đã viết, “Bà ấy đã nhận ra quá muộn rằng làm việc cũng là phẩm giá.”

Làm việc là phẩm giá, tôi lặp lại. Đó có thể là câu thần chú của tôi.

Tại sao tôi lại mất nhiều thời gian như thế để nhận ra sự thật cần thiết này chứ? Fitzgerald đã viết cho con gái ông ấy một nhận thức căn bản nhưng tôi đã cãi nhau với con gái mình Elizabeth, người mà tôi gọi là “Bis” khi con bé muốn đi làm. Khi con bé mới có mười hai tuổi, nó đã nhận được một công việc làm thêm mùa hè, đó là giúp một tay chơi tennis nhà nghề lên lịch trình và dạy. Và tôi đã từ chối công việc đó mà thậm chí còn chẳng hỏi con bé.

“Sao bố có thể làm thế?” Bis khóc và nước mắt tuôn ra từ đôi mắt con bé.

“Bố chỉ muốn con có thời gian để chỉ hưởng thụ mùa hè thôi.”

“Nhưng con thích làm việc,” Bis trả lời một cách cáu giận.

Đối với tôi, làm việc là thứ một người phải làm chứ không phải thứ mà họ nên làm. Tôi ngưỡng mộ những người không phải làm việc … và thèm khát những khoản quỹ tín thác khổng lồ mà vài người bạn giàu có của tôi có. Tôi nghĩ tôi đã giúp Bis khi bảo vệ con bé khỏi phải làm việc. Nhưng tôi đã sai.

Bis luôn muốn làm việc và hoạt động bên ngoài ngôi nhà. Thậm chí khi còn bé, con bé đã yêu thích việc đến trường. Bởi vì nó là đứa con đầu tiên của tôi nên tôi đã không biết thái độ đó là hiếm có cỡ nào. Thậm chí trước ngày đầu tiên đi học, con bé đã tự học đọc. Một ngày khi tôi đang ngồi đọc ở cái ghế bành yêu thích, Bis trèo lên lòng tôi và bắt đầu đọc những câu chữ trong một câu chuyện huyền bí của Dick Francis mà tôi đang say mê. Lúc đó con bé mới chỉ có ba tuổi và tôi đã rất ngạc nhiên! Con bé học đọc thế nào chứ? Nó tự học ư? Rồi tôi nghĩ đến một điều: Bis đã học đọc bằng việc xem Phố Sesame. Chương trình này đã dạy con bé. Tất nhiên sau này khi những đứa trẻ khác ra đời tôi mới biết rằng không phải chương trình Phố Sesame đã dạy Bis đọc – con bé chỉ đơn giản là được sinh ra với khả năng đọc phi thường cái mà nó tất nhiên không di truyền từ tôi.

Bis còn rất may mắn vì con bé xinh đẹp. Thậm chí khi còn là một đứa bé gái, khi tôi đi bộ với con bé trên đường phố New York thì có những tay nhiếp ảnh nhiệt tình quá mức sẽ dừng tôi lại và hỏi xin chụp ảnh con bé. Một người bạn đã cho con bé tham gia một bộ phim vì anh ta nói con bé là “người được tán thưởng”. Bis có mái tóc vàng óng và đôi mắt xanh. Nhưng chính sự thông minh và sự chăm chỉ muốn hoàn thành mọi việc mới là điểm đáng chú ý ở con bé. Sau tốt nghiệp trung học và cao đẳng, con bé đã theo học ở trường NYU Film và sau đó làm việc như một trợ lý cho Martin Scorsese… một ông chủ khó tính. Sau đó con bé làm việc cho Harvey và Bob Weinstein – một thách thức còn lớn hơn. Nhưng Bis dường như thích mọi công việc khó khăn mà họ giao cho nó. Và sự chăm chỉ đó đã được đền đáp. Con bé đã giúp quảng bá bộ phim Trò chơi than khóc. Nhà sản xuất đã rất ấn tượng với con bé và đề nghị nó làm đạo diễn cho một bộ phim truyện. Đây chính là giấc mơ của con bé – trở thành đạo diễn phim. Thậm chí khi còn đang làm việc cho Scorsese và Miramax con bé vẫn có thời gian hoàn thành vài bộ phim ngắn. Giờ con bé đã có cơ hội đạo diễn hẳn một bộ phim dài. Bộ phim, Vàng trên đường phố được ghi hình ở New York và Ai-len. Bis phát hiện ra rằng Ai-len là thị trường cởi mở hơn cho các nữ đạo diễn và con bé chuyển đến đó để tiếp tục công việc của mình.

Làm việc chăm chỉ là bản tính tự nhiên của con bé… Mà tại sao tôi lại không nhận ra lợi ích gì từ tấm gương của con bé nhỉ? Thái độ của con bé lý ra đã phải giúp tôi học về phẩm giá trong công việc – thậm chí khi còn làm việc như một trợ lý pha cà phê thì Bis cũng làm việc một cách nhiệt tình. Tôi giờ mới nhận ra Bis là một điều kỳ diệu – con bé không những không giống tôi ở khả năng đọc kém cỏi mà nó còn không giống tôi ở việc coi công việc như tiếng gọi thay vì một trách nhiệm.

Ý nghĩ về Bis khiến tôi thấy thoải mái hơn khi tôi mở cánh cửa và đi về phía sau cửa hàng Starbucks để chào đón thêm nhiều công việc khó khăn hơn.

Tôi đã hy vọng Crystal sẽ ở đó và giao cho tôi làm một việc gì mà không liên quan đến công việc tính tiền đáng sợ kia. Dù vô cùng lo lắng và muốn chứng minh bản thân như một Cộng sự mới của Starbucks, tôi vẫn lưỡng lự khi phải ra ngoài cùng những người khác để tiếp đón khách hàng. Tôi vẫn chưa tiếp nhận quầy tính tiền nhưng ý nghĩ đó thôi cũng khiến tôi sợ hãi. Vì vậy tôi thường đứng ở đó trong phạm vi trung lập nơi “văn phòng” của Crystal. Đó là một khoảng nhỏ với một cái bàn, ghế và một cái máy tính. Trong vài tuần trở lại đây, Crystal thường quay ra nhìn tôi sau khi tôi đứng ở đó được một lúc và hỏi, “Anh thấy công việc cọ rửa thì thế nào?”

Tôi thì thường trả lời, “Tôi sẽ không mong gì hơn!”

Cọ rửa, tôi nghĩ sẽ giúp tôi tránh được những quầy tính tiền kinh dị kia. Tôi nghĩ mình sẽ thua, thua thảm hại nếu bị bắt thanh toán tiền và nói chuyện với khách hàng cùng một lúc vì thế tôi muốn nhận được sự kính trọng của Crystal và sự phụ thuộc của cô ấy vào tôi trong một lĩnh vực mà tôi có thể học để làm được.

Tất nhiên tôi không có kinh nghiệm về cọ rửa. Ở nhà, vợ trước của tôi làm mọi công việc lau chùi và chúng tôi có người dọn dẹp tới để làm những công việc nặng nhọc như lau dọn nhà tắm và nhà bếp. Và tôi khi đó là một giám đốc điều hành cấp cao nên tôi cũng chả bao giờ dọn dẹp văn phòng của mình. Những người dọn dẹp đem theo những cái túi rác và máy hút bụi sẽ làm việc đó vào tối muộn, đôi khi vào lúc tôi chuẩn bị rời đi. Tôi tự hào là bản thân luôn lịch sự với họ nhưng thực chất chả để ý mấy đến việc làm thế nào mà họ giữ cả văn phòng sạch sẽ.

“Đây là bã kẹo cao su,” Crystal nói vào ngày đầu tiên làm việc của tôi. “Mất rất nhiều công sức để loại bỏ đám này. Chúng ta có gạch và chúng ta có cả vấn đề bã kẹo cao su. Hoặc tôi nên nói là chúng ta có cơ hội mang tên bã kẹo cao su.”

Đây đích thực là một cơ hội cho tôi.

Crystal đưa cho tôi một cái chổi chà bã kẹo. Và cô ấy chỉ cho tôi cách đổ đầy cái thùng lau dọn với nước nóng và hỗn hợp nước cọ rửa. Tôi sẽ lau và chà rồi đào cái đống bã kẹo đó bằng cái chổi và lại chà lần nữa. Chỉ vài một mét sàn cũng tốn khá nhiều thời gian. Và tôi phải tốn hàng giờ để lau sạch cả cửa hàng. Tôi chiến đấu với công việc lau dọn của mình với một thứ năng lượng điên cuồng.

Có một lần Crystal đi đến chỗ tôi và bật cười.

“Mike, tôi chưa bao giờ thấy ai lau dọn mà lại nhiệt tình đến thế.”

“Tôi thích việc này,” tôi nói và tôi thực sự nghĩ thế. Tôi có thể thấy sự thay đổi tôi đang tạo ra. Ngay cả những người Cộng sự cũng âm thầm dành cho tôi một sự kính trọng. Tôi đoán là họ đã không nghĩ rằng ông già da trắng này sẽ thích thú với công việc dọn bã kẹo cao su.

Kester cũng đến và nở một nụ cười khuyến khích khi nói với tôi, “Cẩn thận với cái nhà vệ sinh đó.”

Chắc chắn rồi vì vào một ngày Crystal nói, “Mike, tôi sẽ chỉ cho anh cách làm thế nào để thực sự lau sạch một cái nhà vệ sinh. Anh chắc cũng biết thỉnh thoảng chỗ rửa xe sẽ nói họ đang “dọn từng ngóc ngách” xe của anh phải không? Chúng ta cũng “dọn từng ngóc ngách’ của một nhà vệ sinh. Chúng ta sẽ cùng làm nó một lần. Sau đó tôi muốn anh đảm bảo là tất cả nhà vệ sinh lúc nào cũng lấp lánh.”

Crystal bảo tôi mang găng tay và đưa cho tôi một chất tẩy rửa cực mạnh. Tôi phải cúi người xuống dưới cái bệ toilet và lôi ra một đống các loại rác rưởi. Tôi ngạc nhiên khi tôi không quá bài xích công việc mà trước đây tôi đã nghĩ là hạ đẳng và là một nỗi sỉ nhục khi phải hoàn thành. Nhưng vì Crystal trông có vẻ tích cực về việc này và sự kính trọng của cô ấy đối với thách thức lau dọn một cái nhà vệ sinh khiến tôi cảm thấy hoàn toàn khác. Đối với cô ấy thì đây là một nỗ lực đáng giá và tôi là ai mà dám tranh cãi về quan điểm của Crystal đối với công việc và thế giới chứ? Tôi cũng cảm thấy một sự dâng trào adrenaline nguyên thủy theo bản năng của loài vật rằng nếu tôi có thể thành công trong việc làm gì đó cho Crystal thì tôi có thể giữ được công việc này – dù cho tôi có gặp phải khó khăn gì với quầy thanh toán hoặc những thách thức khác của môi trường bán lẻ đòi hỏi sự di chuyển nhanh chóng này. Vì vậy tôi rất vui mừng mà đi theo sự quyết tâm lạc quan của cô ấy để làm công việc vĩ đại là cọ nhà vệ sinh.

Rất nhanh, cái toilet đã thực sự lấp lánh.

Cô ấy cười.

“Mike, tôi phải nói là tôi chưa từng thấy ai cọ rửa như anh.”

Cô ấy không biết là tôi đang đánh cược cả tương lai của mình ở Starbucks để làm tốt một việc mà không ai muốn. Bằng cách đó tôi cho cô ấy thấy cô ấy không thể sa thải tôi. Tôi đã sợ mất công việc này đến mức ấy. Tôi không muốn thất bại trong cái cơ hội mà tôi cho là cuối cùng này. Độ tuổi trung bình của các Cộng sự trong cửa hàng là hai mươi. Tôi biết là tôi chả thể nào trẻ ra được thế nên tôi thật may mắn khi có được cơ hội này.

Nhưng không phải vì lớn tuổi mà tôi trở nên thông cảm hơn với người già và những người cần giúp đỡ. Hiểu và áp dụng hành vi của mình ở Starbucks không phải dễ. Nhất là lúc ban đầu.

Vào một buổi chiều, tôi vừa mới hoàn thành việc “dọn dẹp từng ngóc ngách” của nhà vệ sinh cho đến khi nó sáng bóng. Tôi nhìn thấy một người đàn ông người Mỹ gốc Phi lớn tuổi trông như vô gia cư đang hướng về phía nhà vệ sinh. Tôi chặn ông ấy lại và nói nhà vệ sinh đang đóng cửa để lau dọn – một lời nói dối mà tôi nghĩ ra vì sợ phải thu dọn cái đống lộn xộn mà ông ta có thể tạo ra.

Crystal nghe thấy và ra hiệu cho tôi đi vào văn phòng cô ấy – việc này không phải tín hiệu tốt. Tôi biết rằng cô ấy chẳng bao giờ la mắng ai trước mặt khách hay thậm chí những Cộng sự khác. Cô ấy sẽ kéo bạn ra nói chuyện riêng trong văn phòng của cô ấy.

“Mike, đừng bao giờ từ chối khi ai đó muốn dùng nhà vệ sinh,” cô ấy nói bằng giọng trầm và giận dữ.

“Nhưng ông già đó không phải khách hàng, ông ta không thể đủ tiền để trả” –

“Ông ấy có thể không phải là khách hàng nhưng bất kỳ ai bước vào cửa thì đều là khách. Điều này khiến Starbucks khác biệt so với bất kỳ chỗ nào ở New York này. Anh không để ý thấy là chả có cái nhà vệ sinh công cộng nào ở cái thành phố này à?”

Vì một lý do nào đó, có thể là bởi vì tôi đã làm việc rất chăm chỉ để dọn dẹp đống bẩn thỉu đó nên tôi đã cãi lại.

“Nhưng việc cung cấp nhà vệ sinh cho người vô gia cư không phải việc của Starbucks.”

Crystal không nói gì … trong khoảng ba mươi giây. Tôi có thể thấy cô ấy giận điên lên. Mắt cô ấy trừng lớn trong cơn giận dữ.

Tôi im luôn. Thế nào mà tôi lại giẫm lên đám mìn đầy cảm xúc chỉ trực bùng nổ này. Tôi thấy thật kinh khủng và sợ hãi.

“Nghe đây.” Giọng của cô ấy thật xa cách; tôi có thể cảm thấy cô ấy đang đấu tranh để không mắng tôi. “Trong cửa hàng của tôi, cửa hàng của chúng ta, chúng ta … chào đón mọi người. Đừng từ chối bất kỳ ai nếu họ muốn dùng nhà vệ sinh, đặc biệt là những người thật sự cần sự chào đón chứ không phải một kẻ nữa muốn khinh bỉ họ.”

Cô ấy đã không nói “không phải một kẻ da trắng nữa” khinh bỉ họ nhưng tôi có thể hiểu được nó có nghĩa đó. Hoặc có lẽ tôi đã quá nhạy cảm. Tôi hiểu rằng tôi đã mắc một sai lầm lớn. Crystal và Starbucks không đối xử với người ta như thế này.

Tôi đi ra ngoài cửa để cố gắng tìm người đàn ông đó nhưng ông ấy đã đi. Lời từ chối của tôi có lẽ chả phải lạ lẫm gì với ông ấy vì New York không phải là một thành phố thân thiện với những người cố gắng tìm một cái nhà vệ sinh. Nhưng tôi đã học được một bài học đắt giá ngày hôm đó. Sự ngạo mạn của tôi đã quay lại ngay khi tôi nghĩ mình đã làm được một việc ra trò. Thật đáng buồn!

Ngày hôm sau, Crystal cũng không nhắc lại việc đó nữa. Tôi biết được Crystal không để bụng. Cô ấy sẽ nói cho bạn biết khi không thích bạn làm việc gì đó ngay khi bạn làm điều đó. Và cô ấy không bao giờ nhắc lại nó.

“Giờ chúng ta sẽ chuyển ra khu vực bên ngoài,” cô ấy hướng dẫn. Cô ấy giao cho tôi lau sạch hành lang cùng với toàn bộ cửa sổ và cạnh cửa sổ.

Một tuần sau, cô ấy để tôi đứng một bên. “Tôi đã quyết định sẽ chuyển anh thành Giám sát viên của nhiệm vụ cọ rửa,” cô ấy tuyên bố. “Thỉnh thoảng tôi sẽ giao cho những Cộng sự khác giúp đỡ anh và anh có thể giám sát công việc.”

Tôi rất phấn khởi. Được thăng chức! Tôi đã được lập trình ở JWT để cảm thấy phấn khởi mỗi khi được thăng chức. Từ một người viết nội dung đến giám đốc sáng tạo rồi phó chủ tịch và cuối cùng là phó chủ tịch điều hành kiêm giám đốc sáng tạo là những khoảng khắc tuyệt vời. Mỗi lần thăng chức đều được tăng lương, nhận được những lời khen ghi đầy trong những mẩu giấy chúc mừng và những bữa tiệc tối ở nhà hàng sang trọng cùng với sự gia tăng về đặc quyền so với những người cùng trang lứa với tôi. Nhưng rồi tôi điếng người nhận ra rằng tôi không còn ở trong cái thế giới mà những điều đó có ý nghĩa. Đây không phải là một tập đoàn lớn với những nấc thang mà ở đó chức danh của bạn là quan trọng … Mày đang cọ rửa nhà vệ sinh đó, Chúa tôi! Tôi nghĩ và tự cười bản thân … thứ mà tôi chưa bao giờ làm trước đây.

Giờ đây đứng ở trong văn phòng nhỏ của Crystal, tôi hy vọng được làm nhiều công việc cọ rửa hơn. Như thế nghĩa là tôi lại có một ngày an toàn với cái quầy tính tiền.

“Này, Mike,” Kester nói khi lướt qua, “Anh làm ăn sao rồi?”

“Tốt,” tôi nói, “Tôi hy vọng được làm công việc cọ rửa ngày hôm nay.”

“Con mẹ nó, không đùa chứ,” Kester nói và chúng tôi phá lên cười trước cái kiểu ám chỉ không được phổ biến lắm của anh ấy.

Crystal xoay người trên ghế trước mặt cái máy tính để nhìn chúng tôi.

“Không dùng lời thô tục ở đây,” cô ấy nói, rõ ràng là không vui vẻ gì. Kester nháy mắt với tôi và tiếp tục đi ra ngoài.

“Cậu ta chỉ đùa thôi mà,” tôi nói một cách ngu ngốc. Kester chả cần tôi phải bảo vệ. Và Crystal thì đang cáu. Sao tôi không im miệng đi nhỉ?

“Mike, để tôi giải thích cho anh,” Crystal đẩy ghế lùi lại.

Cô ấy chỉ vào một tờ giấy được đính trên bức tường đằng sau tôi.

“Đó là tờ giấy ghi những quy tắc không thể thỏa hiệp của chúng tôi … hãy đọc cho tôi nghe quy tắc đầu tiên.”

Crystal nghe như một giáo viên đang giận dữ. Vậy thì tôi sẽ cho cô ấy thấy. Giờ tôi có thể đọc được rồi! Tôi đọc “quy tắc không thể thỏa hiệp” đầu tiên với giọng to, rõ và đầy tự tin: “Tạo ra một môi trường làm việc tuyệt vời và đối xử với nhau bằng sự kính trọng và nhân phẩm.”

Crystal đứng lên. Thậm chí khi tôi đã đọc nguyên tắc không thể thỏa hiệp đầu tiên của Starbucks một cách dõng dạc như vậy thì cô ấy vẫn bực bội vì điều gì đó.

“Sự tôn trọng,” cô ấy nói, lướt qua mặt tôi để chỉ vào từ đó. “Tôi không nghĩ sử dụng ngôn ngữ đường phố ở đây là tôn trọng.”

Cô ấy bỏ tay xuống và giọng thì trầm hơn.

“Mike, tôi không có ý định trút giận lên anh như thế này. Điều đó là không tôn trọng!” Cô ấy cười. Crystal có vẻ như đã lấy lại bình tĩnh.

“Đời thế đấy,” cô ấy nói, chậm rãi, kéo dài mỗi từ, “trước khi tôi đến đây, tôi chẳng được ai tôn trọng cả… lúc nào cũng thế. Tôi chưa từng được nghe từ đó. Mẹ tôi là một kẻ nghiện chất kích thích. Bà ấy chết khi tôi mười hai tuổi. Tôi được giao cho một người dì và dì cũng có hai đứa con.” Crystal vung tay lên trong một tư thế khoa trương. “Tôn trọng ư? Trong cái căn nhà điên rồ đó ư? Giờ thì tôi không oán bà ấy nữa vì tôi có thể thấy bà ấy lớn lên như thế nào nhưng tôi đã thực sự bị tổn thương vì bà ấy không cần tôi. Bà ấy chắc chắn là đã chả cho tôi tí tôn trọng nào. Dì tôi ghét tôi. Bà ấy ghét những người da trắng.”

Crystal nhìn tôi như thể muốn nói, Giờ thì anh hiểu ra chưa?

“Bà ấy gọi người da trắng là ‘kẻ thù’”. Có vẻ như Crystal đang cố khiến tôi kinh ngạc khi tiết lộ một người có thể thô lỗ đến mức nào.

Tôi bị sốc. Tôi hoàn toàn im lặng.

“Dì tôi không đối xử với tôi như kẻ thù nhưng bà ấy khiến tôi cảm thấy mình như một người xa lạ không được chào đón trong nhà. Vì tôi đến Starbucks nên tôi mới được chào đón.”

Crystal quay người và ngồi xuống, một lần nữa trở thành quản lý nhà hàng thư thái.

“Tôi xin lỗi,” tôi nói.

“Đừng xin lỗi, Mike. Thứ tôn trọng này có lẽ cũng mới đối với anh.” Cô ấy cười. “Tôi đã ở đây nhiều năm mà tôi vẫn thấy mới với chuyện này. Anh không thể hiểu nó chỉ trong một đêm. Tôi vẫn còn đang học đây này. Nhưng tôi muốn giải thích cho anh hiểu tại sao chuyện này lại quan trọng với tôi đến vậy.”

“Đúng, tôi để ý thấy mọi người ở Starbucks lịch sự hơn.”

Tôi để ý thấy từ ngày đầu tiên bước qua cánh cửa Starbucks tôi đã được đối xử với sự tôn trọng. Khi cần tôi làm điều gì đó, Crystal và các Cộng sự luôn nói, “Mike, anh có thể giúp tôi một việc không?” Chẳng bao giờ có mệnh lệnh nào được đưa ra. Tôi cũng nhận ra mình nhận được sự kính trọng cá nhân bởi vì đã xử lý tốt việc cọ rửa và một vài nhiệm vụ khó khăn hơn của công việc. Nhưng có lẽ Crystal nghĩ là tôi vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa của khái niệm tôn trọng.

“Những Cộng sự còn hơn cả lịch sự,” Crystal nói, phản ứng lại cái từ mà tôi đã sử dụng thay thế cho từ tôn trọng. Cô ấy rõ ràng là thất vọng với phản ứng của tôi. Tôi có thể thấy điều đó. Trong mắt Crystal tôi vẫn chưa thực sự hiểu điều đó. Sự lịch thiệp không phải là tôn trọng.

“Rồi anh sẽ hiểu thôi,” cô ấy nói, như thể đọc được ý nghĩ của tôi. “Nó sẽ mất chút thời gian. Này, tôi có một dự án cọ rửa cho anh hôm nay đấy … nếu anh thích? Chính là lau dọn cái văn phòng này.”

Cô ấy chỉ mọi thứ bao phủ bề mặt xung quanh cô ấy.

“Tôi rất sẵn lòng!” tôi hốt hoảng la lên. Lại một ngày dọn dẹp nữa – cách xa khỏi cái quầy thanh toán.

Crystal cười trước sự nhiệt tình của tôi.

“Tốt,” cô ấy nói. “Tôi sẽ chạy ra phía trước để kiểm tra và đảm bảo mọi thứ đều ổn. Và hy vọng lúc tôi quay lại thì chỗ này đã được dọn sạch!”

Crystal đứng lên và đôi giầy đen của cô ấy khiến tôi chú ý.

Cô ấy nhanh chóng đi ra phía ngoài. Cô ấy luôn làm mọi việc với một năng lượng tích cực.

Mình có thể hưởng ké một chút động lực tiến về phía trước đó, tôi tự nhủ.

Đột nhiên tôi nhớ đến người bạn của tôi là Gordon Fairburn, người luôn tràn đầy động lực tiến về phía trước trong cuộc đời quá đỗi ngắn ngủi của mình. Tôi mường tượng lại lần cuối đến thăm Gordon và khoảnh khắc lúc rời đi. Tôi đang ở trên con đường vào nhà cậu ấy và hướng về chiếc xe của mình. Cậu ấy nằm trên giường ở trên lầu, vây quanh bởi vợ và những đứa con và đang chết dần vì căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Cửa sổ phòng ngủ của cậu ấy mở rộng ra phía con đường vào nhà vào ngày xuân đó. Tôi nghe thấy cậu ấy cất giọng hát cao và tuyệt đẹp để hát một bài hát cũ cho tôi: “Mong những con đường hạnh phúc đến với anh … cho đến khi chúng ta gặp lại nhau!”

Tôi hát đoạn cuối với cậu ấy. Chúng tôi đã hát bài hát cuối cùng đó với nhau. Rồi tôi lên xe, giơ tay ra vẫy và lái đi. Chúng tôi đã cùng hát rất nhiều bài hát khi còn ở Buckley. Gordon là người bạn duy nhất của tôi ở đó. Chúng tôi còn học chung lớp ở Yale. Rất nhiều đêm ở New Haven đã kết thúc bằng cảnh Gordon ngồi bên chiếc đàn piano còn tôi và những đứa bạn khác thì tựa vào cây đàn và hát những bài hát cũ. Ngay cả khi đã tốt nghiệp chúng tôi cũng thích gặp nhau để cười và để hát. Gordon là người bạn lâu năm nhất của tôi. Cái ngày mùa xuân của vài năm trước, cậu ấy đang hấp hối. Giờ cậu ấy đã qua đời.

Tại sao tự nhiên tôi lại nghĩ đến cậu ấy sau khi Crystal nói chuyện với tôi chứ?

Một năm trở lại đây, khi mà cuộc đời tôi tan nát, tôi đã rất nhớ cậu ấy. Gordon luôn có khiếu hài hước thậm chí trong những hoàn cảnh khó khăn nhất. Cậu ấy thích dẫn lời một cô gái Áo mà cậu ấy yêu vào cái mùa hè chúng tôi tốt nghiệp. Khi chia tay, cô gái đã nói, “Đây là một bi kịch nhưng không quá nghiêm trọng.”

Gordon có cái nhìn rất tốt về mọi thứ. Tôi đi theo hướng quảng cáo còn cậu ấy thì theo học Thần học ở Yale và trở thành một bác sĩ trị liệu thành công, điều mà cậu ấy thích.

Gordon cũng giống Crystal khi cùng có tuổi thơ cơ cực. Bố cậu ấy là kẻ nghiện rượu và ly hôn với mẹ cậu ấy khi Gordon còn bé. Cậu ấy dễ bị tổn thương về thể chất. Nhưng cậu ấy luôn thích hát và yêu đời. Gordon sẽ thích biết mấy nếu vẫn còn sống! tôi nghĩ. Cậu ấy chắc sẽ thích giúp tôi giải quyết vấn đề, định hướng lại để thấy ánh sáng hy vọng. Cậu ấy sẽ thích có cơ hội để trải nghiệm những vấn đề của tôi ấy chứ.

Tôi bật cười. Âm thanh đó vang dội trong không gian nhỏ. Crystal và Kester vẫn ở phía trước với những Cộng sự khác. Đã đến lúc tôi mặc cái tạp dề xanh của mình, và bắt đầu giúp Crystal với dự án cọ rửa của cô ấy.

Có lẽ đã đến lúc tôi biết ơn khoảng thời gian có thêm này. Tôi vẫn còn sống chứ chưa qua đời như người bạn thân yêu của tôi. Tôi vẫn có thể hát và cười. Có lẽ, tôi nghĩ, tôi nên dành nhiều thời gian hơn để hát và cười và dành ít thời gian để khóc than về quá khứ.

Kỷ niệm của tôi về Gordon đã dũng cảm hát vang như thế nào ngay cả khi phải đối mặt với cái chết mười mươi đã khiến tôi hiểu ra mình ngu xuẩn đến thế nào. Tôi phải dừng việc quá xem trọng bản thân. Đúng vậy, tôi đã mất nhiều thứ. Tôi đã trải qua nhiều việc. Nhưng tôi vẫn còn sống và ở quán Starbucks này tôi được Crystal đối xử với sự tôn trọng. Tôi đã học được rằng có rất nhiều phẩm giá trong công việc vất vả này. Thậm chí là việc cọ rửa nhà vệ sinh! Tôi nên hát và cười nhiều hơn. Vì niềm kính trọng đối với Gordon và cuộc đời kỳ diệu đầy đầy sức sống của cậu ấy. Vì sự tôn trọng của Crystal và những gì cô ấy đã dạy tôi. Vì sự tôn trọng cho bản thân tôi và cuộc đời mới này.

 

Lật ngược (Flipped): Thì ra tớ thích cậu đến thế

Lật ngược (Flipped) là bộ phim lãng mạn dành cho … trẻ em. Vì sao ư? Vì nam và nữ chính đều chỉ mới có 11-12 tuổi thôi ạ. Thế nên nếu bạn đang mong chờ những cảnh mùi mẫn, bốc cháy thì đừng xem. Phim này chỉ có dễ thương, dễ thương và dễ thương thôi.

Lật ngược (Flipped)
Lật ngược (Flipped)

Bối cảnh là những năm cuối thập niên 50, đầu thập niên 60 tại Mỹ. Cậu nhóc Bryce cùng gia đình chuyển đến nơi ở mới và làm hàng xóm với cô bé Juli. Khi đó mới học lớp 2 nhưng Juli vừa nhìn thấy Bryce là đã trúng tiếng sét ái tình. Và cô nàng còn nhầm tưởng sự lạnh lùng của Bryce là do cậu nhóc xấu hổ.

Thế nhưng đến khi hai cô cậu lên cấp 2 Juli vẫn chưa có được tình cảm của Bryce cho dù cậu chàng đã có đến vài cô bạn gái. Điều này vẫn không ngăn được Juli thích Bryce, thậm chí cô bé còn rất vô tư đều đặn tặng trứng cho nhà cậu bé. Phải nói rằng Juli mà một cô bé rất đáng yêu, chân thành và chăm chỉ.

Con cậu nhóc Bryce thì sao? Cậu ta chẳng qua là hơi không thích con gái chủ động như Juli thôi. Ngoài ra gia đình cậu ta cũng khá là chảnh dù không xấu tính. Và đỉnh cao của cái sự chảnh này là họ chả bao giờ ăn trứng mà Juli cho chỉ vì sợ nhiễm khuẩn. Chả là họ nghĩ trứng gà tự nuôi chắc không vệ sinh lắm. Và họ đơn giản là vứt số trứng đó vào thùng rác.

Lật ngược (Flipped)
Lật ngược (Flipped)

Thật không may là Juli lại biết được và quyết định nghỉ chơi với Bryce. Còn cậu nhóc thì vừa cảm thấy tội lỗi vừa thấy hụt hẫng vì không có Juli. Thêm nhiều hiểu lầm nữa xảy ra khiến mối quan hệ của hai cô cậu tưởng như rạn nứt. Đến lúc này Bryce mới nhận ra hóa ra Juli vừa xinh đẹp lại lương thiện và không giả tạo, nhàm chán hay kiểu cách như mấy cô bạn gái trước của mình.

Vào một ngày đẹp trời, họ làm hòa với nhau. Sau đó thì sao? Sau đó thế nào thì khán giả tự tưởng tượng. Câu truyện khép lại ở hình ảnh hai cô cậu cùng vun trồng một cái cây trước sân nhà.

Lật ngược (Flipped) là bộ phim nhẹ nhàng, hài hước và phù hợp cho gia đình. Trong phim, người xem cũng thấy rất nhiều bài học quý giá về tình bạn, sự trung thực, bao dung và việc trân trọng những người xung quanh.

Starbucks đã cứu cuộc đời tôi như thế nào – Chương 2

Chương 2: Sự thật phũ phàng

“Hãy tưởng tượng tất cả chúng ta đều giống nhau. Hãy tưởng tượng chúng ta đều có chung quan điểm chính trị, tôn giáo và đạo đức. Hãy tưởng tượng chúng ta đều thích một loại âm nhạc, nghệ thuật, đồ ăn và cà phê. Hãy tưởng tượng chúng ta đều có cùng vẻ ngoài. Nghe có vẻ nhàm chán nhỉ? Sự khác biệt không phải là thứ chia rẽ chúng ta. Hãy yêu quí sự đa dạng. Nhân phẩm là quyền con người của mỗi chúng ta.”

THÁNG TƯ

Một vài tuần khổ sở trôi qua và tôi vẫn không nhận được tin gì từ Crystal. Mỗi giây phút tôi đều mong chờ cuộc gọi của cô ấy trong lo lắng cố ý hoặc vô ý. Tôi tiếp tục đi đến quán Starbucks ở góc đường 78 và Lexington nơi chúng tôi đã gặp, hy vọng có thể nhìn thấy cô ấy ở đó nhưng cô ấy chưa bao giờ xuất hiện.

Tôi cũng tiếp tục gọi điện cho các khách hàng tiềm năng đối với công việc quảng bá của mình nhưng hộp thư thoại của tôi vẫn trống không. Hơn bất kỳ lúc nào, tôi cần một công việc, bất kỳ việc gì. Khi tôi gặp Crystal lần đầu tiên, tôi đã không thực sự nghiêm túc về ý tưởng làm việc tại Starbucks. Nhưng qua một vài tuần trở lại đây, khi đợi chờ cuộc gọi của cô ấy mà không có bất kỳ một lựa chọn nào khác để tôi hy vọng, thì tôi đã nhận ra rằng Starbucks có thể cho tôi một lối thoát – có lẽ là lối thoát duy nhất – để chi trả cho cuộc phẫu thuật não sắp tới và hỗ trợ đứa con trai bé bỏng và những đứa con khác của tôi. Để hỗ trợ bản thân tôi nữa. Tôi đang phải đối mặt với thực tế, ở cái tuổi già nua này, rằng tôi gần như không thể tự nuôi sống mình. Tôi đã để lại cho vợ trước căn nhà lớn và đang dùng đến những đồng tiền tiết kiệm cuối cùng và giờ tôi phải đối mặt với việc có thể không trả nổi tiền thuê nhà tháng sau. Tôi trở nên tuyệt vọng hơn vài tuần trước. Bất kỳ khi nào điện thoại của tôi reo, tôi đều khẩn cầu đó là Crystal.

Tôi đã làm gì sai trong buổi phỏng vấn ư? Tôi tự hỏi. Hay đã nói gì không đúng? Hay tôi không phải là người thuộc giới tính, dân tộc hay độ tuổi mà Crystal muốn làm việc cùng?

Khi ngồi chờ điện thoại reo, tôi nghĩ lại những buổi thử vai cho các quảng cáo trên truyền hình mà tôi đã thực hiện vài thập kỷ trước. Khi đó tôi đã không ngần ngại loại các ứng cử viên chỉ vì những lỗi nhỏ. Nếu một diễn viên nam có nụ cười quá sáng hoặc không đủ sáng, hoặc nếu một cô gái trẻ có giọng không chuẩn, thì người đó sẽ bị loại. Khi tuyển dụng, tôi chọn những người giống mình, với bối cảnh gia đình giống mình. Giờ đây khi mỗi ngày lại trôi qua mà Crystal vẫn không gọi thì tôi càng chìm sâu vào cái cảm giác rằng có thể Crystal cũng nghĩ theo cách đó: Làm việc dễ dàng và tránh xa những người khác mình.

“Sự đa dạng” là một từ ngữ vĩ đại trong thời đại ngày nay. Nhưng rất ít người mà tôi biết thật sự vượt qua được tầng lớp xã hội và bối cảnh gia đình – đặc biệt là trong việc tuyển dụng người sẽ làm việc với họ mỗi ngày. Ở các tập đoàn Mỹ, sự đa dạng là một mục tiêu hấp dẫn mà mọi người biết làm thế nào để thực hiện nhưng rất ít người thực sự làm được điều đó. Thực chất nó chỉ là một từ mà chúng ta thảo luận theo một cách mơ hồ khi chính phủ đang nghe ngóng.

Hy vọng duy nhất của tôi là Crystal cần đủ nhiều nhân viên mới – hoặc đủ can đảm – để cho tôi một cơ hội. Điều này có quá mỉa mai không khi tôi lại đi hy vọng rằng Crystal sẽ nhân từ hơn tôi?

Tôi ép bản thân không được nghĩ đến chuyện này. Và rồi một ngày khi tôi đang ở ga Grand Central, điện thoại của tôi reo vang.

“Mike?”

“Đúng?” tôi trả lời với giọng ngờ vực. Giọng của người ở đầu dây bên kia không giống bất kỳ ai mà tôi biết.

“Tôi là Crystal.”

Thái độ cảnh giác của tôi lập tức thay đổi.

“Ồ, xin chào!” tôi nói một cách nhiệt tình. “Thật tốt được nghe giọng cô!”

“Anh có cần một công việc nữa không…,” cô ấy dừng lại và tiếp tục một cách thật ngầu, “làm việc cho tôi?” Nghe như thể cô ấy rất sẵn lòng nghe một câu trả lời không và tiếp tục ngày làm việc của mình. Tôi tưởng tượng cô ấy có một danh sách những ứng viên tiềm năng mà cô ấy đang nghiên cứu. Và hầu hết những người trong danh sách này có lẽ đều phù hợp làm việc cùng cô ấy hơn là tôi.

“Có, tôi thực sự muốn làm việc với cô,” tôi gần như hét vào điện thoại. “Tôi mong đợi được làm việc với cô và nhóm của cô.”

Bình tĩnh lại, Mike, tôi tự nói với bản thân như vậy. Đừng có tỏ ra nhiệt tình quá. Và tại sao tôi lại nói đến “nhóm” nhỉ? Crystal đã nói về “cộng sự”. Tôi biết rằng mỗi công ty có một ngôn ngữ riêng mà bạn phải theo nếu bạn muốn được đối xử tốt. Tôi đang muốn hòa nhập vào môi trường này đến phát điên lên được. Bình tĩnh lại, tôi nói với bản thân mình, hoặc là mày sẽ thổi bay cơ hội cuối cùng này đi mất.

Nhưng có vẻ điều này chẳng quan trọng – Crystal không thực sự lắng nghe. Bạn có biết khi bạn đang nói chuyện với ai đó trên điện thoại và người đó chỉ vờ lắng nghe khi mà họ đang làm điều gì đó khác họ cho là quan trọng là như thế nào không? Tôi đã cảm thấy như vậy vào cái ngày đó khi nói chuyện với Crystal. Đối với tôi, cuộc gọi này là vô cùng quan trọng. Đối với cô ấy thì đây chỉ là một trong những việc cần làm trong một ngày bận rộn thôi.

Cái cách bình thản mà cô ấy cho tôi một công việc thật là một điều sỉ nhục.

“Được rồi,” cô ấy nói. “Hãy đến cửa hàng của tôi ở góc phố 93 và Broadway vào lúc ba giờ rưỡi chiều mai.”

“Góc phố 93 và Broadway?” tôi lặp lại, ngạc nhiên bởi địa chỉ nơi đó.

“Đúng.” Cô ấy nói như thể cô ấy đang hướng dẫn một đứa trẻ ba tuổi. “Chín mươi ba … và … Broadway, và đừng đến muộn đấy.”

Tôi hơi bối rối. “Nhưng chúng ta gặp mặt ở cửa hàng góc phố 78 và Lex cơ mà.”

“Thì sao?” Cô ấy nghe như thể đang đe dọa. “Tôi gặp anh ở đó vì chúng tôi có một buổi tuyển dụng ở đó. Đó là cách mọi việc được thực hiện ở Starbucks.”

Crystal đang dùng cái giọng mà tôi biết rõ. Tôi đã dùng cái thái độ cứng nhắc chỉ có trong các doanh nghiệp đó khi đuổi những người mà tôi không muốn gặp.

“Ở Starbucks,” cô ấy tiếp tục, “chúng tôi chọn một cửa hàng, mở một buổi tuyển dụng, và quản lý của các cửa hàng đang cần người sẽ đến phỏng vấn ứng viên. Nhưng thế không có nghĩa là anh sẽ làm việc tại cửa hàng đó. Tôi là quản lý của cửa hàng ở đường Chín mươi ba và Broadway.” Cô ấy ngừng lại và nói tiếp, “Anh có vấn đề gì với việc đó không?”

Cô ấy lại dùng cái giọng đe dọa đó một lần nữa. Có hay không? Cô ấy còn những người khác trong danh sách để gọi và đang rất sẵn lòng kết thúc cuộc gọi này. Tôi có thể cảm thấy cô ấy chẳng thích lắm việc đề nghị cho tôi công việc này.

“Không có vấn đề gì,” tôi nhấn mạnh để đảm bảo với cô ấy. “Tôi sẽ có mặt ở đó đúng giờ vào ngày mai.”

Tôi nghe như thể – thậm chí chính tôi cũng thấy thế – một lão già nói chuyện như một đứa trẻ mới đến trường. Thật xấu hổ!

“Nếu anh muốn làm việc, hãy mặc quần đen, giầy đen, và một cái áo trắng. Có vấn đề gì không?”

“Được,” tôi trả lời.

Cô ấy cúp máy. Thậm chí cô ấy còn chẳng nói tạm biệt.

Chết tiệt! Cuộc gọi ngắn ngủi đó khiến tôi thật căng thẳng. Trong vài tuần trở lại đây, khi mà thực tế của cuộc sống khó khăn càng trở nên rõ ràng hơn đối với tôi, thì tôi cố gắng bắt lấy bất kỳ dấu hiệu nào về việc tôi có thể có cơ hội duy trì vị trí của mình ở tầng lớp trên của xã hội Mỹ thay vì rớt không phanh xuống những tầng đáy – để tránh bị chìm ngỉm trong nỗi tuyệt vọng. Những ngày qua khi chờ đợi cuộc gọi của Crystal, cái viễn cảnh phải làm việc tại Starbucks khiến tôi vô cùng xấu hổ nhưng tôi tự nói với bản thân rằng ít nhất tôi được làm gần nơi tôi đã lớn lên. Đó là một khu vực tốt. Nơi đó sẽ an ủi tôi trong quá trình chuyển đổi từ tầng lớp thống trị xuống tầng lớp phục vụ. Trong sự suy sụp rõ ràng đến không thể chối cãi của bản thân về mặt tài chính và cả địa vị xã hội thì con phố Bảy mươi tám là một niềm an ủi nho nhỏ.

Dù là nó ở đâu đi chăng nữa thì tôi cũng chưa bao giờ đi đến khu vực đường Chín mươi ba và Broadway cả. Nguyên tắc của tôi khi sống ở New York City là không bao giờ đi lên quá đường Mười chín phía đông hoặc xuống quá Grand Central. Giờ thì tôi chuẩn bị làm việc tại cái nơi mà tôi hình dung là một khu vực rất nguy hiểm. Nơi đó rõ ràng là xa khu vực Bờ Đông thượng Manhattan, nơi mà tôi coi là nhà.

Và tôi cũng không thích thái độ của Crystal đối với tôi. Cô ấy làm như tôi là thằng ngốc không bằng. Tôi cảm thấy cô ấy rất không công bằng. Và rồi tôi hối hận khi nhớ ra mình cũng từng đối xử với một cô gái trẻ người Mỹ gốc Phi làm việc cho tôi tại JWT với cùng một kiểu thái độ khinh khỉnh đó. Jennider Walsh được tuyển trong chiến dịch tuyển dụng những người thuộc bộ phận thiểu số mà chúng tôi thực hiện hồi thập niên Bảy mươi. Đó là một biểu hiện, một nỗ lực ngắn hạn của chúng tôi để thực hiện việc đa dạng hóa.

Chỉ đơn giản bởi vì cô ấy là một phần của chiến dịch tuyển dụng những người thuộc tầng lớp thiểu số này, Jennifer khiến tôi nghi ngờ khả năng của cô ấy. Tôi được giao nhiệm vụ làm người hướng dẫn cho cô ấy. Thế nhưng cho đến tận sau cuộc gọi của Crystal ở Grand Central, tôi chưa bao giờ hiểu cái cảm giác bị bỏ qua chỉ bởi sự khác biệt về hoàn cảnh. Trái tim tôi nặng trĩu khi tôi nhận ra mình đã có thái độ đầy định kiến như thế nào đối với những người có hoàn cảnh khác biệt với mình ở JWT. Ở công ty, chúng tôi đều thích thú cái sự thật là hầu hết mọi người đều học ở các trường danh tiếng và lâu đời. Chúng tôi nghĩ mình chính là tinh anh của giới quảng cáo. Chúng tôi đều cho rằng việc tuyển dụng bất kỳ ai không tốt nghiệp các trường tốt nhất của tốt nhất đó thì đều khiến thứ hạng của chúng tôi bị tụt theo – và rất nhiều những người như thế được tuyển trong chiến dịch đó.

Jennifer rất dễ thương nhưng cô ấy chỉ tốt nghiệp chương trình hai năm ở trường cao đẳng và tôi chưa bao giờ coi công việc của cô ấy ở JWT là nghiêm túc. Tôi đã bảo cô ấy đọc các quảng cáo trong vài tuần mà chẳng thèm hướng dẫn cô ấy viết bài nào. Sau đó tôi giao cho cô ấy nhiệm vụ viết một bài quảng cáo trên báo cho Ford. Đó là quảng cáo đầu tiên của cô ấy.

Jennifer tới văn phòng của tôi. Rõ ràng là cô ấy sợ đến cứng đờ khi tiến về phía chiếc bàn làm việc lớn của tôi. Điều này càng khiến cho tôi nghĩ rằng cô ấy không hợp với JWT vì chúng tôi phải cho khách hàng thấy sự tự tin của mình. Tôi đã đổ lỗi cho Jennifer chỉ vì cô ấy cảm thấy bất an trong môi trường hoàn toàn mới này. Khi đọc bản nháp quảng cáo của cô ấy, tôi nhận ra cô ấy đã chép lại y nguyên một đoạn từ một quảng cáo khác của Ford mà tôi đã đưa cô ấy đọc. Đây chính là cái kiểu đạo văn bị ghét cực kỳ ở JWT. Có lẽ bởi vì chúng tôi là những người viết nội dung nên chúng tôi không thể chịu nổi việc ai đó chép lại lời của người khác. Jennifer đã phạm phải một tội không thể bỏ qua trong khi làm việc. Ít nhất đó là những gì tôi thấy được lúc đó.

Giờ nghĩ lại, tôi nhận ra cô ấy có lẽ không biết điều đó là vi phạm quy định và tôi tất nhiên cũng chẳng chỉ ra cho cô ấy. Tôi thậm chí còn chẳng thèm cân nhắc lại. Lỗi lầm ngu xuẩn này của cô ấy đã cho tôi một cái cớ. Tôi đi thẳng tới ban quản lý và nói với họ rằng Jennifer có thể sẽ là một thư ký tốt một ngày nào đó nhưng cô ấy không có “những thứ cần thiết” để nắm bắt thứ nghệ thuật cao siêu của quảng cáo. Tôi không có thời gian cho cô ấy và cả cái ý tưởng đa dạng hóa.

Sau khi chứng kiến sự hờ hững của Crystal trong việc xử lý cái cơ hội việc làm mà với tôi thì vô cùng quan trọng, tôi nhận ra trong sợ hãi rằng mình thật tàn nhẫn biết bao khi “giúp đỡ” Jennifer. Tôi đã từng là một kẻ đạo đức giả trong đám những kẻ cổ hủ tự tung hô bản thân vì đã tin tưởng vào cái lý thuyết về sự tiến bộ của tầng lớp thiểu số, trong khi thực tế lại làm mọi thứ có thể tại nơi làm việc – nơi mà tôi có quyền kiểm soát – để lý thuyết này không thực hiện được. Dù cố ý hay vô ý thì tôi cũng đã làm hỏng nỗ lực của Jenniver khi muốn hòa nhập vào cái thể giới nhỏ của tôi chỉ bởi vì cô ấy là người Mỹ gốc Phi và không có được sự giáo dục cũng như kinh nghiệm mà tôi coi trọng.

Jennifer sau đó bị chuyển sang làm công việc văn phòng nào đó ở bộ phận nhân sự và tôi hoàn toàn quên mất cô ấy cho đến giờ phút này. Giờ tôi cảm thấy thật kinh khủng. Tôi tưởng tượng việc Crystal coi tôi là một lão già da trắng ngu ngốc mà cô ấy đã sai lầm khi cho tôi một công việc. Tôi sẽ không hợp với thế giới của cô ấy hoặc không đủ tốt để đáp ứng những yêu cầu của cô ấy – đúng như những gì tôi cảm nhận về một cô gái Mỹ da đen trẻ tuổi vài thập niên trước.

Tôi cũng muốn tự đá bản thân vì đã không nghe lời con gái mình, Laura, trong suốt nhiều năm. Laura có mái tóc màu nâu rực rỡ tôn lên đôi mắt màu hạt dẻ lấp lánh. Và giờ tôi vẫn có thể nhớ lại hình ảnh con bé lắc đầu trong giận dữ vì tôi không chịu “hiểu vấn đề”. Con bé đã dành nhiều thời gian để giới thiệu cho tôi một cách nhìn nhận thực tế hơn về thế giới và bởi vì tôi quá là không tinh tế, tôi đã không lắng nghe con bé. Laura có một thứ năng lượng thật tích cực và linh hoạt; con bé có thể cười một cách dễ dàng nhưng nó vẫn có cảm nhận về sự bất công trong cuộc sống. Trong quá trình trưởng thành, con bé đã nhìn nhận những nỗ lực vì người Mỹ gốc Phi là hành động mang tính khẳng định. Con bé sẽ ngồi đối diện tôi trên bàn ăn tối, xoắn lọn tóc xinh đẹp trong giận dữ khi chúng tôi tranh cãi. Tôi đã coi cảm giác và ý tưởng của con bé về việc làm thế nào để giúp đỡ những người kém may mắn hơn là “ngây thơ một cách vô vọng”. Tôi cảm thấy an toàn khi bọc mình trong lớp bong bóng của sự tự tâng bốc: tôi tự thuyết phục bản thân rằng công việc hàng đầu trong ngành quảng cáo và sự sung túc mà tôi đạt được là phần thưởng bởi vì tôi là một người thông minh và tài năng … chứ không phải chỉ đơn giản vì địa vị và sự thành công mà tôi nhận được ngay khi sinh ra và vì màu sắc may mắn trong cái thế giới bị thống trị bởi “những gã đàn ông da trắng trung niên cùng thế hệ với bạn” như Laura đã từng gọi. Laura và tôi có những cuộc tranh cãi triền miên trong suốt khoảng thời gian con bé trưởng thành. Dường như từ khi con bé mười tuổi, nó đã coi cái phong cách sống đầy vương giả của tôi là một thứ đáng bị phản đối trong khi nhiều người khác không có được nhiều như vậy.

Thậm chí bây giờ khi đã học đại học thì con bé cũng chưa bao giờ đánh mất sự đồng cảm đối với những người kém may mắn hơn mình. Con bé thực tế là đã khóc khi tôi đưa nó đến ngôi trường đại học trong mơ mà tôi đã chọn cho nó.

“Có chuyện gì nào?” tôi hỏi con bé. Tôi đã nỗ lực rất nhiều để con bé có thể vào được trường này, thậm chí cả việc gọi điện cho một người ủy thác để nói vài lời tốt đẹp tôi cũng đã làm.

“Cái nơi này không có sự đa dạng”, con bé nói, đấu tranh để thể hiện sự bực bội với tôi và thái độ đặc quyền của tôi khi con bé chỉ một đám sinh viên mới người da trắng đang đổ vào khu ký túc mới xây đẹp đẽ mà con bé sẽ ở lại. “Bố vẫn không hiểu!”

Giờ tôi nhận ra trong đau đớn việc tôi đã sai đến thế nào khi cố gắng bóp nghẹt quan điểm của Laura về “thế giới chân thật”, một nơi bất công đối với những người không sinh ra đúng tầng lớp xã hội, màu da và không đủ khả năng chi trả cho việc giáo dục mà họ xứng đáng. Trái tim tôi thực sự đau đớn khi nhận ra trong nuối tiếc về sự giả định của bản thân rằng Chúa tạo ra tôi và những người giống tôi để thống trị vì chúng tôi đáng giá hơn những dân tộc khác. Cuối cùng thì giờ đây tôi cũng đang “dần hiểu” điều đó khi tôi phải đối mặt với một thực tế mới của cái thế giới mà không có những đặc quyền được thừa hưởng.

Nhưng liệu những kiến thức khó khăn lắm tôi mới học được này có đến quá muộn để thay đổi cuộc đời tôi hay không?

Có lẽ đây là một cái nghiệp, tôi nghĩ. Và tôi thật là đáng đời mà. Nhưng mà tôi không định từ chối lời mời làm việc của Crystal – dù thái độ của cô ấy có là gì đi nữa.

Hôm sau tôi dậy sớm và đột nhiên nhận ra rằng mình sắp đón sinh nhật lần thứ sáu tư trong vài tuần nữa. Người ta nói tháng Tư là tháng dễ chịu nhất trong năm và khi tôi đang cố tròng cái quần đen vào để đi làm ở Starbucks, tôi đã lắc đầu ngán ngẩm vì có lẽ tôi sẽ đón sinh nhật của mình bằng công việc phục vụ cà phê thấp kém.

Tôi không biết nên khóc hay nên cười với cái cảm giác lo sợ của mình khi tôi chạy vội khỏi căn hộ rẻ tiền ở khu ngoại ô của mình để bắt chuyến tàu tới Grand Central. Rồi tôi lại chạy nhanh nhất có thể trong dòng người hối hả để đón tàu điện ngầm đến Quảng trường Thời Đại. Mặc dù cứ vài phút lại có một chuyến tàu nhưng chúng tôi vẫn cố ép người lên chuyến tàu trước mặt như thể đó là cơ hội cuối cùng để đi đến đâu đó trong ngày hôm nay. Tôi không thể tưởng tượng được đám đông di chuyển nhanh đến thế nào – cứ như thể chúng tôi đang ở trong cuộc thi chạy một trăm mét của một kỳ Olympic. Sao phải vội vàng nhỉ? Tôi không dùng phương tiện công cộng để đi làm trong nhiều năm và lúc trước tôi toàn bắt taxi hoặc đi xe cơ quan khi mà tôi càng ngày càng leo cao trên nấc thang đặc quyền ở JWT. Tôi chưa bao giờ phải đi tàu điện ngầm cả. Nhưng giờ đây tôi chẳng có nghi ngờ gì về cái sự điên rồ của dòng người di chuyển này – tôi cũng phải chạy cùng với họ.

Từ Quảng trường Thời Đại, tôi chuyển qua một chuyến tàu đông đúc khác để đi đến phố Chín mươi ba. Lúc cố ép bản thân mình vào trong khi tàu đóng cửa, tôi nhận ra mình đang ép lên những người khác, những người mà tôi sẽ chẳng bao giờ muốn biết họ là ai; và bị buộc phải có những tiếp xúc cơ thể với họ. Những gương mặt đều không quen thuộc. Làm thế nào mà cuộc đời mình lại đi đến chỗ này chứ? Tôi nghĩ. Rất nhanh, cửa mở và tôi bị buộc phải bước ra sân ga bẩn thỉu bên ngoài. Tôi trèo lên những bậc thang dốc để đi ra con phố Chín mươi ba với trái tim đập ầm ầm, mồ hôi túa ra mặc dù đó là một ngày lạnh đầu tháng tư.

Khi ra khỏi bến tàu điện ngầm, tôi phải chống chọi với những cơn gió và sau đó lảo đảo đi đến cửa hàng Starbucks ở góc đường Broadway. Mưa lạnh cóng khiến con đường trở nên trơn trượt. Tôi chợt dừng lại. Giờ tôi đã ở trước cửa hàng, tôi lại chẳng vội vàng để mở cửa.

Khi tôi nhìn chằm chằm cái biển hiệu Starbucks, thực tế phũ phàng của hoàn cảnh quất tới khiến tôi thấy ốm. Tôi tê tái, đứng trên vỉa hè lạnh giá ở một nơi không quen thuộc trong thành phố này. Giấc mơ một lần nữa gia nhập một tập đoàn quốc tế để trở nên giàu có, quyền lực và hạnh phúc giờ đã trở thành một cơn ác mộng ê chề. Vâng, đúng là tôi sẽ tham gia vào một tập đoàn đa quốc gia lớn nhưng thực tế là làm ở vị trí của một gã bồi bàn với một cái tên bóng bẩy. Ở nơi công cộng này tôi sẽ phải xấu hổ khi người ta biết Michael Gates Gill lại mặc như bồi bàn và phục vụ đồ uống cho những người có thể là bạn hoặc từng là khách hàng của tôi. Nó giống như việc những người hành hương ngày xưa trói tội phạm vào gốc cây ở quảng trường công cộng để làm ví dụ răn đe những người khác.

Như trưởng lão Thanh giáo Jonathan Edwards đã nói: “Chúng ta đều là con rối được treo trên một sợi tơ nối với bàn tay của chúa trời đang giận dữ.” Có lẽ có một vị chúa của Thanh giáo đang giận dữ đã quyết định trừng phạt mọi lỗi lầm của tôi. Mỗi phút giây của vài năm qua, tôi đã phải chịu gánh nặng tội lỗi khi làm tổn thương những người mà mình yêu quí. Đó là vợ cũ của tôi, con tôi và vài người vẫn còn là bạn của tôi. Tổ tiên Thanh giáo của tôi chắc sẽ nổi giận với tôi. Đúng vậy, tôi nghĩ chắc là có vị Chúa cáu kỉnh nào đó mà tôi đã mạo phạm.

Nhưng tôi phải công nhận rằng cái thực tế mà tôi phải đối mặt trần tục hơn thế. Tôi không thể giả vờ như mình đang trải qua một cuộc hành trình thần bí như trong kinh thánh. Không phải tôi đang làm một thể loại công việc hiện đại nào đó; tôi đang tìm việc. Và tôi phải đối mặt với thực tế phũ phàng hàng ngày rằng tôi ở đây vì chính sự quản lý tài chính tồi tệ, và nhu cầu tình dục của mình đã khiến tôi rơi vào cảnh bơ vơ này. Tôi chả phải người đặc biệt gì để được Chúa phán xét riêng. Thật là đau đớn khi phải thừa nhận tôi còn chưa phải đặc biệt đến mức ấy. Rất khó để tôi có thể từ bỏ cái cảm giác về một nơi đặc biệt trong thế giới này.

Giờ tôi bị buộc phải nhìn nhận một thực tế mới: những gì mà tôi đang trải qua – một kẻ đã quá già để đi tìm việc – là thực tế mà hàng triệu người Mỹ có tuổi đang phải đối mặt khi không thể tự nuôi sống bản thân và không trụ nổi trong các tập đoàn lớn. Trong tình trạng đầy lo lắng, mâu thuẫn và nỗi hổ thẹn không mong muốn, tôi mở cánh cửa vào cửa hàng Starbucks.

Bên trong, mọi thứ đều ấm áp và ồn ào một cách có trật tự. Một hàng khách dài ra đến gần cửa đang đứng đợi. Những bà mẹ bế con trên tay với xe đẩy. Nhân viên văn phòng thì đang kiểm tra điện thoại. Lũ học sinh thì đang lôi kéo cặp sách. Sinh viên đại học thì mang theo máy tính. Tất cả đều bồn chồn chờ đợi được phục vụ latte.

Khi tôi nhìn những người phụ vụ bên kia quầy bán hàng, nỗi lo lắng của tôi được xác nhận: tất cả các nhân viên đều là người Mỹ gốc Phi. Rõ ràng là ở đây không có sự đa dạng. Điều này không phải điều ngạc nhiên đối với tôi, bởi vì tôi đã để ý thấy nó khi đến thăm nhiều cửa hàng Starbucks khác nhau sau buổi phỏng vấn với Crystal. Sự thật là không có nhiều người da trắng làm việc cho các cửa hàng của Starbucks ở New York.

Lần đầu tiên trong đời tôi biết mình sẽ trở thành một thành viên nổi bật nhất trong một cộng đồng thiểu số thực sự. Tôi sẽ làm việc với những người có hoàn cảnh, giáo dục, tuổi tác và dân tộc hoàn toàn khác với mình.

Và từ thực tế những gì đang diễn ra trong cửa hàng, rõ ràng là tôi sẽ phải làm việc vô cùng vất vả. Có ba nhân viên đang vất vả đóng mở quầy tiền, nhận tiền và nhanh chóng hô to tên các loại đồ uống cho nhân viên ở quầy pha chế. Nhân viên ở quầy pha chế thì nhanh chóng lặp lại tên các loại đồ uống trong khi pha chế chúng một cách thành thạo, đong đếm những cốc sữa nóng và rót cà phê. Với tốc độ đặt hàng như tên lửa, họ phục vụ thức uống cho khách hàng kèm theo lời chúc đầy năng lượng đến gần như là hét lên “Chúc ngon miệng!” Khách hàng sẽ tự với tay lấy đồ uống của mình với niềm khao khát mãnh liệt.

Cái công việc kinh doanh cà phê này rõ ràng không phải là việc bình thường với bất kỳ ai – ở cả hai đầu của quầy bán. Có một nhịp độ điên cuồng và những ồn ào cố ý như trong một cuộc chạy đua với thời gian. Tôi chưa bao giờ giỏi thể thao cả và cửa hàng này có cái không khí thi đấu của những người đang vận hành nó với adrenaline dâng tràn. Phải gọi tên và lặp lại tên các loại đồ uống, có vẻ như tôi sẽ tham gia một buổi thử giọng cho một vở nhạc kịch Ý ồn ào.

Đột nhiên tôi thấy lo lắng. Không chỉ về sự khác biệt liên quan đến dân tộc, tầng lớp và tuổi tác. Giờ tôi có một mối quan tâm cơ bản hơn. Tôi vốn nghĩ công việc ở Starbucks nằm dưới khả năng mà tôi có. Nhưng giờ tôi nhận ra có lẽ nó vượt quá những khả năng đó. Công việc này có thể là một thách thức thực sự đối với tôi cả về tinh thần, cảm xúc và thể chất.

Tôi chưa bao giờ giỏi về xử lý tiền bạc – đó là lý do chính mà giờ tôi cần một công việc đến thế. Toán là môn học mà tôi chưa bao giờ giỏi ở trường. Tôi vẫn còn nhớ rõ ràng những lần các giáo viên toán khác nhau phải thốt lên rằng “nhưng bài này rất dễ mà” khi họ viết lên bảng một phương trình nào đó. Tôi ghét những giáo viên đó vì sự thông thái của họ. Thậm chí những phép tính cộng, trừ đơn giản nhất cũng là thách thức đối với tôi. Giờ đây cái thực tế là các nhân viên đang tính toán tiền với tốc độ nhanh chóng ở quầy bán của Starbucks khiến tôi thấy sợ hãi.

Tôi đã mất khả năng nghe ở một bên tai vì khối u não. Thế nên việc nghe được những cái tên phức tạp của các loại đồ uống có thể là một vấn đề khó khăn đối với tôi. Tôi cũng sợ hãi cái ý nghĩ phải hiểu được những yêu cầu đặt hàng lắt léo và gọi ra đúng những yêu cầu đó trong thời gian tính bằng giây. Ngôn ngữ chưa bao giờ là kỹ năng mà tôi có. Giáo viên tiếng Pháp của tôi ở Yale đã nói, “tôi sẽ cho anh qua với một điều kiện: anh đừng bao giờ đi tra tấn bất kỳ ai trong cái trường này với cái giọng đó của anh.” Nhưng giờ đây rõ ràng là tôi phải làm chủ được thứ ngôn ngữ ngoài hành tinh của Starbucks.

Trong ấn tượng đầu tiên đó, tôi nhận ra với một cảm giác ê chề rằng công việc mới của tôi có thể là một bài kiểm tra mà khả năng lớn là tôi sẽ trượt. Tôi đã mặc một chiếc quần đen với áo trắng và không thắt cà vạt. Tôi cảm thấy cô đơn và sợ hãi. Và rồi Crystal xuất hiện như một cơn lốc đầy năng lượng tích cực.

“Cùng uống một ly cà phê nhé,” cô ấy nói và dẫn tôi qua một cái bàn nhỏ ở trong góc. “Ngồi đây nhé, tôi sẽ mang cho anh thử một cốc cà phê mẫu.”

Có thể đây chỉ là thái độ chuyên nghiệp mà Crystal thể hiện trước mọi người nhưng tôi vẫn thấy biết ơn. Tôi nghĩ, có lẽ cô ấy đã thảo hiệp với việc thuê tôi và không thấy căm ghét bản thân hay tôi vì đã chấp nhận cơ hội này.

Tôi nhanh chóng ngồi xuống cái góc nhỏ với Crystal và nhấp một ngụm Sumatra ngon tuyệt. “Cái này là một loại cà phê được biết đến với hương vị của “đất mẹ”… nhưng tôi lại gọi nó là bùn đất.” Crystal cười và tôi cũng cười theo. Ngày hôm nay Crystal đội một cái mũ của Starbucks với búi tóc được giấu bên trong khiến cô ấy trông tinh tế, thậm chí lôi cuốn. Bông tai kim cương trên tai cô ấy lấp lánh.

Có lẽ là cà phê, mà phần nhiều có thể là khả năng của Crystal khiến tôi thấy thoải mái hơn rất nhiều.

Nhưng tôi còn xa mới cảm thấy thoải mái. Bất chợt, tôi nhớ về hình ảnh của mình lâu trước đây khi đang tắm nắng với gia đình và bạn bè trên một cái cầu cảng ở hồ tại Connecticut. Giờ thì hình ảnh nằm dài và cười đùa thật thoải mái dưới ánh mặt trời ấm áp dường như đã từ những kiếp trước. Cái hồ nơi tôi lớn lên được vây giữa hàng mẫu Anh đất rừng tư nhân. Nó được tách rời khỏi thế giới xô bồ và ấp ủ tôi với niềm vui và những đặc quyền.

Tôi còn nhớ thời mình là cậu bé nhỏ ném táo vào nhà thơ Ezra Pound. Jay Laughlin, nhà xuất bản của Pound, chủ của khu cắm trại bên cạnh đã đưa Pound đến khu vực hồ ngày hôm đó. Pound ngồi yên như một bức tượng ở cuối cầu cảng. Có một lúc, ông ấy đã xắn quần lên và khua đôi chân trắng trong nước, tất nhiên vẫn không nói gì. Chân ông ấy trông như cái bụng trắng của một con cóc. Có cái gì đó trong sự xa cách đáng tự hào của Pound khiến tôi và anh em họ của mình thấy hứng thú. Chúng tôi nhặt vài quả táo mà chúng tôi đang ăn dở và bắt đầu ném chúng vào ông ấy. Tuy trượt nhưng những quả táo cũng khiến nước bắn tóe lên bộ quần áo ngoại quốc màu tối của ông ấy.

Ezra Pound không nói cũng không di chuyển. Cha tôi cười và ngầm ủng hộ hành vi của chúng tôi. Cha tôi đã viết trong cuốn sách bán chạy của ông, Nơi đây trong cuộc sống của người New York, về những năm tháng ông dành để viết tạp chí. Ở phần mở đầu, ông đã đưa ra quan điểm triết lý của mình: “Quy tắc đầu tiêu của cuộc đời là phải vui vẻ. Không còn quy tắc thứ hai.” Vui vẻ với bố tôi nghĩa là phá hỏng những thùng táo. Ông không thích quan điểm chính trị của Pound và việc ông ấy thưởng thức cảnh đẹp.

Cha tôi có thể đến hồ này bởi vì ông cưới mẹ tôi và gia đình mẹ tôi đã đi nghỉ ở đây trong hàng trăm năm. Cha tôi mang những đồng tiền mà người cha gốc Ai-len nhập cư vào Mỹ của ông đã kiếm được để ủng hộ dòng họ Mayflower của mẹ tôi. Cái hồ đó, nơi tràn đầy sự lịch thiệp của những nhóm người da trắng cao quí, quyền lực, rất hợp với phong cách nổi loạn mang tính khiêu khích cố ý kiểu Celtic của bố tôi. Với kiểu cách phớt lờ mang tính tự chủ trương, bố tôi thoải mái sử dụng số tiền mà cha ông ấy đã phải làm việc vất vả mới kiếm được.

“Tốt nhất nên tiêu tiền khi còn sống,” cha tôi tuyên bố như vậy với đôi mắt lấp lánh sự nhiệt tình kiểu có quỷ mới quan tâm. Dường như ông đang mỉa mai tài sản mà cha ông đã vất vả tích cóp và cả những người có nguồn gốc Bắc Mỹ ở xung quanh khu hồ, những người luôn căng thẳng tích cóp từng xu.

Cha tôi thích nói, thích viết và trên tất cả ông thích trở thành tâm điểm chú ý của các bữa tiệc. “Mọi thứ xảy ra tại các bữa tiệc,” ông luôn nói vậy. Vì vậy các bữa tiệc liên tiếp diễn ra tại cầu cảng của cái hồ mộc mạc nhưng độc đáo đó.

Cha tôi tiêu xài phung phí thời gian với tất cả những tài năng của bản thân. Ông ấy cống hiến cho những thứ khác nhiều đến nỗi không có đủ thời gian ở nhà với tôi. Chúng tôi chẳng bao giờ có thời gian gặp nói chuyện chỉ hai người, như cha và con. Khi tôi trưởng thành và rời khỏi nhà, ông mời tôi đến các bữa tiệc của mình và đó là cách duy nhất chúng tôi gặp nhau. Khi ông chết, tôi cũng không còn nhu cầu đi dự các bữa tiệc nữa.

Giờ tôi ngồi đây uống cà phê với Crystal – cách xa những bữa tiệc mùa hè tại khu hồ độc quyền đó – nhưng tôi lại cười với cô ấy và tôi có thể thấy được trái tim mình nhẹ nhàng hơn và tinh thần thì lên cao hơn một chút. Thực tế này khiến tôi thấy ngạc nhiên. Có lẽ nguyên nhân là do chất kích thích có trong loại cà phê này. Nhưng tôi cũng phải thừa nhận rằng tôi cảm thấy thoải mái trong hoàn cảnh hoàn toàn mới này – uống cà phê giữa một cửa hàng đông đúc nhưng đầy tính lạc quan như một cách để bắt đầu một  công việc mới. Mọi thứ cũng quái gở và xa lạ giống như Alice ở xứ sở thần tiên. Hoặc Michael Gates Gill vượt đến một nơi khác, tầng lớp khác và thấy rằng điều đó cũng không đáng sợ lắm. Tôi đang vượt qua tình trạng cũ của mình và kết quả trực tiếp là tôi cảm thấy tốt hơn những gì tôi đã trải qua trong nhiều ngày. Hoặc tuần. Hoặc tháng.

Điều này thật điên rồ … nhưng tôi hy vọng có lẽ sẽ có phương pháp đối với sự điên rồ này.

Giọng của Crystal đánh vỡ giấc mộng ban ngày của tôi. “Mike, việc học được sự khác biệt của những loại cà phê này rất quan trọng.” Tôi không có thời gian xa xỉ để dành cho những thứ triết lý của bản thân nữa. Chuông đã gõ. Tôi giờ ở trong sàn đấu. Đã đến lúc tham dự vào những nỗ lực đang diễn ra từng phút hơn là đặt nặng suy nghĩ. Theo kịp những yêu cầu của khách hàng là công việc mới của tôi. Tôi phải từ bỏ việc dành quá nhiều thời gian để nghĩ về quá khứ và những gì tôi đã mất. Việc theo kịp hiện tại cũng là một thử thách lớn.

Tôi dần nhận ra, ở Starbucks, mọi thứ không xoay quanh tôi mà đều liên quan đến việc phục vụ người khác.

Crystal giữ khuôn mặt nghiêm túc và bắt đầu một bài giảng như thể tôi là một học sinh đang hào hứng với các câu chuyện về cà phê: “Cà phê Sumatra đến từ Indonesia; người Hà Lan đã mang chúng đến đó hàng trăm năm trước và nó thuộc một nhánh của một họ cà phê mà chúng tôi gọi là ‘gắt’”.

Lại “chúng tôi”, tôi để ý thấy điều đó và nghĩ về Linda White và cái từ “chúng tôi” mà cô ta dùng khi đuổi việc tôi. Crystal cũng có thể làm điều tương tự.

“Đây là cách mà chúng tôi chào đón những cộng sự mới,” Crystal giải thích, rướn người về phía tôi như thể sắp tiết lộ một bí mật cá nhân. “Chúng tôi tin rằng cà phê là công việc kinh doanh của mình. Cà phê Starbucks là tên của chúng tôi. Vì vậy chúng tôi chào đón tất cả các cộng sự mới với các mẫu cà phê và những câu chuyện về chúng.”

Crystal ngồi lại trên ghế và cười. Tôi cũng đáp lại cô ấy với một nụ cười. Khuôn mặc cô ấy giờ trông thật vui vẻ và lạc quan. Cả đôi mắt màu nâu của cô ấy, cũng ánh lên niềm thích thú hạnh phúc dù cho có lúc chúng cũng thật lạnh lẽo. Khi cô ấy nói, tôi có thể dễ dàng nhận ra người phụ này thông minh và nhiệt tình. Ít nhất là về việc kinh doanh cà phê. Và tôi cảm thấy có lẽ – chỉ là có lẽ thôi – Crystal sẽ cho tôi cơ hội để chứng tỏ bản thân.

Khi thưởng thức ly cà phê Sumatra đậm đà, tôi bắt đầu cảm thấy mình có thể giải quyết được công việc kinh doanh này của Starbucks. Tôi yêu cà phê; tôi thích học về lịch sử của mọi thứ. Tôi nhìn lướt qua các cộng sự đang làm việc tại quầy. Tất cả đều làm việc chăm chỉ nhưng dường như vẫn vui vẻ. Dù họ đều còn trẻ và không có ai là người da trắng thì tôi tự nghĩ rằng có lẽ tôi nên là một thành viên của cái nhóm ‘gắt’ đó giống như loại cà phê mà tôi đang uống.

Đột nhiên cửa nhà hàng bật mở. Một anh chàng người Mỹ gốc Phi đang cáu gắt bước vào. Anh ta phải cao trên một mét tám với cơ bắp cuồn cuộn dưới chiếc áo phông màu đen. Anh ta cuốn một miếng vải te tua trên đầu và trong mắt tôi trông chả khác gì một tên cướp biển thời hiện đại. Anh ta có ria mép và vài sợi gì đó ở cằm. Anh ta là kiểu người mà trong quá khứ tôi sẽ đi đường vòng để tránh.

Crystal gọi anh ta, “Này Kester, đến đây gặp Mike đi.”

Kester đi chậm đến bàn của chúng tôi. Tôi để ý thấy một vết bầm trên trán anh ta. Anh ta chìa một bàn tay to ra với tôi.

“Chào, Mike,” anh ta nói với một chất giọng trầm. Và rồi anh ta cười. Nụ cười khiến khuôn mặt anh ta biến đổi. Ngay lập tức tôi cảm thấy mình được chào đón. Trên thực tế, trông anh ta còn ấm áp hơn cả Crystal. Tại sao ư? Có phải vì anh ta tự tin hơn về việc có thể xử lý tôi? Những gã đàn ông gia trắng già cả sẽ chẳng khiến anh ta phải bận tâm.

“Kester, anh kiếm cục bầm đó ở đâu vậy?” Crystal nói và chỉ lên trán anh ta.

“Đá bóng ấy mà.”

“Đá bóng?”

“Phải, một vài người bạn ở Columbia gọi tôi cùng tham gia trận đấu … Hóa ra họ nghĩ là tôi chơi tốt. Như một điều tự  nhiên.” Kester cười khi nói điều này.

Nhưng Crystal nhanh chóng quay lại công việc đang làm trong tay. Khuôn mặt của cô ấy trở lại cái kiểu chuyên nghiệp và nghiêm khắc mà tôi sẽ biết sớm. Tôi có cảm giác Crystal luôn thích nắm quyền kiểm soát. “Mike là một cộng sự mới,” cô ấy giải thích cho Kester, “và tôi đang tự hỏi liệu anh có thể giúp tôi một việc … anh có muốn làm người hướng dẫn cho anh ta không?”

Tôi học được là ở Starbucks chẳng ai ra lệnh cho ai làm gì cả. Mọi thứ luôn là “Anh có thể giúp tôi một việc không?” hoặc cái gì đó tương tự thế.

“Chắc chắn rồi,” Kester trả lời, “Tôi sẽ thay đồ rồi trở lại ngay.”

Sau khi anh ta đi, Crystal nói với tôi trong khi rướn người về phía trước một cách thần bí, “Kester chẳng bao giờ cười cho đến khi anh ta bắt đầu làm việc ở đây. Anh ta từng là đại ca của một nhóm những kẻ…” Cô ấy ngừng lại, có vẻ như ý thức được việc kể cho tôi biết quá nhiều. Cô ấy ngồi lại, sửa sang tóc. Cô ấy đổi tâm trạng quá nhanh từ tự tin, thần bí, nghiêm túc, vui vẻ, chuyên nghiệp, lo lắng và giờ đây lại là lo lắng.

Kester trở lại, mặc một chiếc tạp dề màu xanh lá cây và mũ Starbucks đen nhưng trông vẫn khá là đáng sợ … cho đến khi anh ta cười. Crystal đứng lên nhường chỗ cho anh ta.

“Tôi sẽ mang cho hai người thêm cà phê.”

Crystal quay lại với một cốc Verona cho mỗi người và vài miếng bánh sô cô la cà phê. Tôi ngạc nhiên bởi phong cách nhiệt tình mà cô ấy đối đãi với chúng tôi. Tôi chưa từng phục vụ bất kỳ thứ gì cho bất kỳ cấp dưới nào trong suốt quãng thời gian làm việc tại công ty trước kia. Nhưng Crystal có vẻ thực sự thích việc này. Cô ấy và Starbucks dường như đang đảo lộn hết cái khái niệm thứ bậc truyền thống trong các công ty.

Cô ấy lại bắt đầu giải thích chi tiết về Verona và kể cho chúng tôi rằng nó là loại cà phê nam Mỹ ‘vừa phải’ rất phù hợp dùng chung với sô cô la.

“Nhưng mà,” Crystal giải thích và cười tươi với chúng tôi, “tất cả các loại cà phê đều hợp với sô cô la; chúng như an hem họ thân thiết vậy. Anh sẽ thích hương vị của Verona khi dùng chung với bánh sô cô la cà phê này.”

Cô ấy để chúng tôi tự thưởng thức bánh và cà phê của mình như thể chúng tôi là khách trong nhà cô ấy. Đây rõ ràng là một trải nghiệm hoàn toàn khác những gì mà tôi tưởng tượng. Cà phê Verona với bánh sô cô la cà phê là một sự kết hợp hoàn hảo – Crystal đã đúng.

Rồi Crystal đưa chúng tôi cà phê Colombia với một miếng bánh gato.

“Đây là loại cà phê ‘dịu’”, cô ấy nói. “Anh có thấy sự khác biệt không?”

“Chắc chắn là nó nhẹ hơn Sumatra,” tôi nói.

“Đúng, ‘nhẹ hơn’ là từ chuẩn xác, Mike,” cô ấy nói như thể cô ấy là giáo viên đang khen ngợi một học sinh thông minh. “Đừng lo, anh sẽ học rất nhiều điều về sự khác biệt giữa các loại cà phê ở đây. Dù sao thì anh sẽ được trả tiền cho khoảng thời gian anh ngồi đây uống cà phê và ăn bánh với Kester. Không tệ đối với ngày làm việc đầu tiên nhỉ!”

Crystal để tôi lại với Kester. Mặc dù trông cô ấy có vẻ thoải mái nhưng tôi nghĩ đó chỉ là một phần của cách cô ấy quản lý. Cô ấy có lẽ chỉ cố khiến “cộng sự mới” là tôi đây cảm thấy dễ chịu. Tôi nhận ra Crystal khá là khó đoán và rằng tôi sẽ mất nhiều thời gian để thật sự hiểu cô ấy. Cô ấy chẳng khớp với bất kỳ khái niệm nào mà tôi có.

Mười năm trước tôi không thể tưởng tượng được việc mình sẽ sợ hãi đồng thời háo hức và tuyệt vọng đến thế nào để có được sự đồng ý của người phụ nữ trẻ tuổi này.

Và mười năm sau, tôi cũng không thể tưởng tượng được việc ăn bánh sô cô la, bánh gato và thưởng thức những ly cà phê với một người có vẻ ngoài hung dữ như Kester.

“Ở đây nó thế đấy,” Kester nói theo cái kiểu nó phải thế. “Chúng tôi gọi nó là đào tạo thông qua chia sẻ. Nghĩa là chúng ta làm mọi thứ cùng nhau. Tôi học từ anh bằng cách giúp đỡ anh học,” Anh ta cầm lấy chiếc cốc của tôi và đứng dậy. “Được rồi, giờ anh đã thưởng thức cà phê nên chúng ta sẽ học cách pha chế chúng.”

Tôi theo anh ta vào sau quầy.

Sau này tôi mới biết Kester là người thân thiện nhất ở Starbucks. Đóng cửa hàng vào buổi tối là một trong những thách thức lớn nhất trong quản lý bởi vì bạn sẽ phải chịu trách nhiệm kết sổ và đảm bảo mọi thứ được sắp xếp và bổ sung đầy đủ cho ngày tiếp theo. Kester luôn đảm bảo rằng mọi thứ được thực hiện đúng giờ và hoàn hảo.

Vào ngày đầu tiên đi làm tôi chẳng biết gì về những điều này. Tôi cũng không biết rằng vào một buổi tối muộn sau này, Kester sẽ cứu mạng tôi.

 

Thế giới bí ẩn của Arrietty – Hóa ra người tí hon là có thật

Arrietty là một trong những bộ phim hoạt hình mà Amber thích nhất cho đến thời điểm này. Bộ phim kể về một thế giới mà mọi người trên thế giới đều từng đặt câu hỏi về sự tồn tại của nó – thế giới tí hon. Đây lại là một tác phẩm tuyệt vời của Studio Ghihbli.

Arrietty
Arrietty cô bé tí hon

Bạn đã bao giờ thấy một gia đình mà mỗi người chỉ cao bằng cái thìa chưa? Bạn đã bao giờ thấy gian bếp đầy đủ vật dụng của họ nhưng mỗi thứ chỉ bé bằng cái cúc áo chưa? Bạn chắc cũng chả biết rằng một cái lá tía tô thôi cũng đủ để gia đình Arrietty pha được một ấm trà rồi phải không?

Ở thế giới bí ẩn đó, mọi thứ đều bé xíu bé xiu nhưng hoàn toàn đầy đủ. Từ cốc chén, ấm tách, đến kẹp tóc, quần áo, bàn ghế đều rất tinh xảo và đẹp đẽ. Đồ ăn thức uống của gia đình Arrietty cũng đầy đủ lắm nha. Nếu thiếu thứ gì thì họ chỉ đơn giản là … đi mượn thôi. Và tất nhiên những thứ họ mượn đều là từ con người. Thế nên họ được gọi là Những người vay mượn (The borrower – theo đúng tên truyện gốc).

Arrietty
Arrietty – phòng ngủ đầy hoa cỏ

Cô bé Arrietty sống với cha mẹ dưới sàn một ngôi nhà cổ. Một ngày đẹp trời nọ, Arrietty được bố cho tham gia chuyến đi vay mượn đầu tiên trong đời. Nói không ngoa chứ Amber thấy bố con cô nàng chả khác gì điệp viên trong mấy trò vay mượn này.

Nhưng lần đầu tiên này chả suôn sẻ gì khi Arrietty bị một cậu bé loài người phát hiện. May mắn là cậu bé không có ý thù địch. Sau lần đó hai người còn vài lần chạm mặt nữa. Dần dần một tình bạn kì lạ nảy sinh giữa họ. Cho đến một ngày một câu bé tí hon khác xuất hiện. Cậu bé này là người lang thang, trông giống dân da đỏ. Và bố mẹ Arrietty nghĩ đến việc chuyển nhà.

Arrietty
Arrietty – vật dụng tí hon trong gia đình

Chưa kịp chuyển nhà thì mẹ của Arrietty đã bị mụ giúp việc xấu xa phát hiện và bị bắt nhốt trong một cái bình. Nhờ có sự giúp đỡ của cậu bạn loài người và cậu bé da đỏ mà cả nhà cô bé mới thoát được và bình an dời đi.

Bộ phim là một thế giới cổ tích đầy màu sắc. Mỗi một chi tiết đều khiến người ta phải trầm trồ ngỡ ngàng. Những con người bé nhỏ đó đã vay mượn đủ thứ để tạo ra một cuộc sống bé xíu nhưng hoàn hảo không chê vào đâu được. Có khi ngày mai Amber cũng thử lật mấy cái thùng cái ván nhà lên xem có người tí hon trong đó không.

Ủng hộ Rừng Hổ Phách

Mong các bạn ủng hộ để Amber duy trì trang web. Nếu không có Paypal thì có thể:
1. Chuyển khoản tới: Hoang Mai Nhung - 0021002033624 - Vietcombank.
2. Chuyển qua Momo
3. Gửi thẻ cào điện thoại Viettel
Chân thành cảm ơn!

Rừng Hổ Phách

Lịch

Tháng 4 2026
H B T N S B C
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930  
DMCA.com Protection Status