Người bên lầu tựa ngọc – Chương 14

Chương 14: Kẻ vô tội bị nghi ngờ lớn nhất

 

Thường Thạc.

Vừa nghe thấy cái tên này thì Mỹ Nhân Xà đột ngột im bặt. Nàng ta không cam lòng mà nhìn thoáng qua hướng Tống Lập Ngôn rời đi, trong mắt là màu đỏ tươi đầy uy hiếp: “Nếu ngươi muốn dùng cái này để giữ chân ta thì cứ chờ nhặt xác cho người cả huyện Phù Ngọc đi!”

“Tỷ tỷ nói quá lời.” Lâu Tự Ngọc uốn gối hành lễ, “Thường Thạc đại ca lấy bản thân mình đổi lấy sự tồn tại cho cả chuột tộc, là anh hùng chân chính. Ta làm gì cũng không dám đem huynh ấy ra làm trò đùa. Lúc huynh ấy chết, ta vừa lúc có mặt ở đó, vừa khéo nhận được một tia âm hồn huynh ấy để lại. Đáng tiếc là sau trận chiến đó tỷ tỷ đã đi vào Kỳ Đấu Sơn không ra nữa, vì thế ta cũng không có cơ hội truyền đạt.”

80 năm trước Thượng Thanh Tư từng lấy danh nghĩa triều đình mà tập kết 300 người có tu vi cực cao đến huyện Phù Ngọc tiêu diệt chuột yêu. Vua chuột là Thường Thạc huyết chiến ba ngày với người của Thượng Thanh Tư, sau cùng vì kiệt sức mà tiêu tan ba hồn bảy phách, bảo vệ chuột tộc trốn chạy. Tuy là chuột nhưng Thường Thạc là người rộng rãi ngay thẳng, đến lúc sắp chết cũng chỉ thở phào một hơi, lấy hồn âm lưu lại di ngôn gửi ở chỗ nàng:

“Tâm nguyện của cô đã xong, nhưng lòng lại thẹn với Tha Thiết. Nếu một ngày kia ngươi gặp nàng thì thay cô tạ lỗi với nàng —— ngàn trượng kỳ đấu, vạn dặm nguyệt minh (núi non ngàn trượng, vạn dặm ánh trăng), chuyện cô từng hứa với nàng, cuối cùng vẫn không làm được.”

Nhớ tới ngữ khí lúc ấy của Thường Thạc, Lâu Tự Ngọc vẫn còn thổn thức. Nàng thấp giọng nói từng câu từng chữ cho Mỹ Nhân Xà.

Mỹ Nhân Xà lặng người mà nghe, trong con ngươi vốn nham hiểm hung ác bỗng trào ra nước mắt. Nàng ta bỗng nhiên rít lên một tiếng, đuôi rắn vung lên, chém đứt thân cây cổ thụ bên cạnh. Một tiếng vang rung trời phát ra, cả cái cây dập nát, chim muông cuống quít chạy, đất dưới chân cũng ẩn ẩn rung động.

Lâu Tự Ngọc lùi nửa bước nói: “Tỷ tỷ bớt giận.”

“Bớt giận?” Mỹ Nhân Xà vừa khổ vừa hận, đôi mắt rắn nhìn thẳng vào nàng, “Ta muốn giết đám người Thượng Thanh Tư, thế mà ngươi dám chặn đường. Bọn họ giết người ta yêu thương nhất thì ngươi lại bảo ta bớt giận ấy hả? Lúc trước ta bị thương nặng nên bị giam cầm, hiện giờ ta có sức lực, ta muốn người của Thượng Thanh Tư phải chôn cùng chàng!”

“Tội gì phải thế?” Lâu Tự Ngọc thở dài, “80 năm trước tỷ tỷ không đấu lại bọn họ thì 80 năm sau cũng có gì khác đâu?”

“Tự nhiên là khác.” Mỹ Nhân Xà cười lạnh, “Ít nhất, Tống Thanh Huyền đã chết.”

Lâu Tự Ngọc chấn động, chín cái đuôi to phía sau đột nhiên cứng đờ, mang theo chút sát khí.

“Nhìn đi, ngươi khuyên người khác thì lưu loát thế, đến lượt mình thì chẳng phải cũng giống ta sao?” Mỹ Nhân Xà nghiêng đôi mắt rắn mà cười nhạo nàng, “Thường Thạc vì Thượng Thanh Tư mà chết. Tống Thanh Huyền chẳng lẽ không phải? Ngươi ở đây cản ta làm gì, không bằng cùng ta một đường, giết hết bọn chúng.”

“Ta cản tỷ tỷ là vì Thường Thạc đại ca. Huynh ấy muốn tỷ sống thật tốt chứ không phải chết uổng phí.” Lâu Tự Ngọc rũ mắt, nhanh chóng ổn định cảm xúc của mình, nhẹ giọng khuyên nhủ, “Thượng Thanh Tư đã có lịch sử ngàn năm, các loại pháp khí nhiều không dứt. Ma cao một thước, đạo cao một trượng, cho dù tỷ tỷ không bị thương thì cũng không tránh được thất bại.”

Dứt lời, nàng thu chín cái đuôi của mình lại, nhường lối đi: “Nếu tỷ tỷ cảm thấy ta đang che chở cho người của Thượng Thanh Tư thì ngài cứ việc đuổi theo.”

Dù sao hiện tại mới đuổi theo thì khẳng định là không đuổi kịp.

Mỹ Nhân Xà nhìn con đường xuống núi kia, phát hiện không thấy hơi thở của đám người Thượng Thanh Tư kia nữa thì cáu giận thét dài một tiếng. Có điều cẩn thận nghĩ lại thì nàng ta cảm thấy Lâu Tự Ngọc nói cũng không sai. 80 năm trước nàng ta thua vì xúc động nghênh địch, hiện giờ không thể khinh địch như thế nữa.

Nàng ta tàn nhẫn quật đuôi rắn qua mấy cái cây cổ thụ, sau đó mới hóa thân mà đi. Trong một mảnh sương đen truyền đến tiếng uy hiếp: “Lần tới gặp lại mà ngươi còn chắn đường ta thì lúc đó cho dù không đánh lại Thượng Thanh Tư ta cũng muốn cùng ngươi phân cao thấp!”

Lâu Tự Ngọc hơi hơi mỉm cười mà uốn gối hành lễ với nàng ta. Cuồng phong trên núi lúc này mới bình lặng lại. Đám lá khô bị thổi bay rốt cuộc cũng chậm rãi rơi xuống. Nàng quay đầu lại nhìn nhìn phía sau, núi rừng vắng vẻ không có lấy một bóng người.

Tống Lập Ngôn tìm được ngựa ở dưới chân núi, sau đó hắn đem đám người Diệp Kiến Sơn đi về thành. Dọc đường đi hắn không hề nói chuyện mà chỉ nắm chặt Diệt Linh Đỉnh, trong mắt có ánh sáng lập lòe, sắc mặt thoạt nhìn không tốt lắm.

Diệp Kiến Sơn hỏi hắn: “Sư đệ, ngươi tìm thấy Diệt Linh Đỉnh ở đâu thế?”

“Ta vô tình tìm thấy ở một khách điếm.”

“Khách điếm?” Diệp Kiến Sơn thay đổi giọng điệu, “Bảo bối bậc này sao có thể tùy tiện đặt ở một khách điếm chứ? Đó là khách điếm nào?”

“Sư huynh hiểu lầm rồi. Khách điếm kia là do người thường mở, ta đã đốt diệt thần hương, không có gì khác thường.”

Diệp Kiến Sơn lắc đầu: “Sư đệ lần đầu tiên rời kinh đô ra ngoài làm việc nên chưa từng chứng kiến thủ đoạn xảo trá của đám yêu quái. Diệt thần hương tuy có thể diệt yêu quái bình thường, nhưng tuyệt đối không đủ để lay động những đại yêu.”

Tống Lập Ngôn không có ý kiến gì, chỉ giục ngựa chạy về phía trước. Tống Tuân ở phía sau nhỏ giọng nói tiếp: “Đại sư huynh, trên đời này nào còn có đại yêu quái nào chứ? Cho dù không bị tiêu diệt trước khi dựng triều thì ngàn năm nay Thượng Thanh Tư nhiều lần bao vây tiêu diệt, bọn chúng đã sớm bị diệt hết rồi mới phải. Ta nghe Tư trưởng bối nói vua chuột Thường Thạc đã là Yêu Vương cuối cùng rồi. Hắn cũng đã hồn phi phách tán, ai còn có thể an ổn đứng cạnh diệt thần hương mà không nhăn mày chứ?”

Diệp Kiến Sơn hơi hơi nghẹn lời, cuối cùng thở dài nói: “Đề phòng một chút cũng không xấu. Lúc ra khỏi kinh đô, sư phụ dặn dò riêng ta phải chăm sóc sư đệ. Nếu đã gặp được thì ta cũng cùng các ngươi đi xem thế nào.”

Vị Diệp sư huynh này đã ở Thượng Thanh Tư từ khi hắn sinh ra. Nghe nói trong một lần diệt đại yêu hắn bị hủy dung nên từ đó luôn đội mũ trùm. Hắn làm người không tồi, chỉ là thích lải nhải. Hắn muốn đến khách điếm Chưởng Đăng thì Tống Lập Ngôn tất nhiên sẽ không cự tuyệt.

Rốt cuộc hắn cũng hơi nghi ngờ Lâu Tự Ngọc kia.

Mấy con ngựa phóng qua con đường đất cuốn lên một đám bụi. Ngày mới vừa qua trưa, tấm biển của khách điếm Chưởng Đăng đã ở phía xa. Tống Lập Ngôn híp mắt nhìn trong chốc lát, lại phát hiện Lâu đại chưởng quầy cũng thật biết làm ăn buôn bán. Nàng vẫn treo mảnh vải đỏ nghênh đón huyện lệnh đại nhân, khiến một đám người đang bu quanh nịnh nọt, ân cần hỏi khi nào thì nàng mở cửa lại. Bản thân nàng thì dựa cửa, phe phẩy cây quạt cười đáp:

“Các vị đừng nóng vội, chờ huyện nha sửa chữa xong, khách điếm Chưởng Đăng nhất định sẽ chuẩn bị cơm rượu tiếp đãi các vị khách quan tới dùng bữa.”

“Ai, thế sao được, chỉ là buôn bán nhỏ thôi mà. May mắn chúng ta lọt vào mắt xanh của đại nhân, làm gì có chuyện phất nhanh thế được. Chẳng qua ta cũng chỉ mở cái khách điếm thôi mà.”

“Lưu viên ngoại khách khí rồi, chờ đại nhân trở về nô gia sẽ tìm cơ hội nói tốt cho ngài hai câu.”

Cái bộ dáng thơn thớt nói cười như cá gặp nước kia khiến Tống Lập Ngôn nhìn mà cười lạnh một tiếng. Hắn siết dây cương, con ngựa lập tức dừng lại.

“Ai da, đại nhân đã trở lại sao?” Lâu Tự Ngọc đảo mắt thấy hắn thì vội ôm sổ sách tiến lên đón. Đến gần ngựa nàng còn ân cần dặn dò, “Đại nhân đi chuyến này cũng lâu quá, chắc chưa ăn cơm đúng không? Nô gia đã dặn riêng để đầu bếp chờ ngài về đó.”

Sóng mắt vừa chuyển nàng đã nhìn về phía người đang đội mũ trùm bên cạnh hỏi: “Vị khách quý này là?”

“Chuẩn bị thêm một gian phòng nữa cho khách.” Tống Lập Ngôn hiển nhiên không muốn giải thích với nàng. Hắn cất bước đi vào khách điếm, quan sai phía sau đuổi theo, xua hết đám người vây quanh cửa.

Lâu Tự Ngọc cũng không ngại, nàng cười với Diệp Kiến Sơn sau đó cũng xoay người đi vào.

Diệp Kiến Sơn nghiêng đầu nhìn nàng, mặt giấu sau mũ trùm nên không nhìn thấy biểu tình của hắn, chỉ thấy bàn tay cầm kiếm của hắn hơi nắm chặt.

Vị nữ chường quầy này dáng người thướt tha, động lòng người, cũng không có nửa điểm yêu khí nào, đích xác chỉ là một người bình thường.

Nhưng người bình thường phần lớn đều không dám tiếp cận sư đệ, một là vì ngại thân phận hắn, hoặc ngại sát khí trên người hắn. Hiếm có ai có thể nói được vài câu với hắn. Vị chưởng quầy này lá gan cũng thật to, sư đệ ngồi xuống bàn thì nàng đi cũng đi tới đứng bên cạnh cười nói: “Đại nhân làm sao thế? Sao mới ra ngoài một chuyến mà lúc về sắc mặt đã trắng bệch thế này?”

Tống Lập Ngôn liếc nhìn nàng một cái, đem Diệt Linh Đỉnh đặt ở trên bàn.

“A, cái đỉnh đồng này sao lại sửa được rồi?” Lâu Tự Ngọc bày ra vẻ mặt ngạc nhiên mà duỗi tay.

“Chưởng quầy!” Tống Tuân sợ tới mức lên tiếng quát chặn nàng lại. Tống Lập Ngôn lúc này lại giơ tay ngăn hắn, đôi mắt dừng trên tay Lâu Tự Ngọc, nhìn nàng cầm đỉnh đồng lên.

“Làm sao vậy?” Nàng mở to đôi mắt vô tội, ước lượng Diệt Linh Đỉnh trong tay.

Pháp khí phần lớn sẽ không để yêu vật đến gần, đặc biệt là Diệt Linh Đỉnh, một pháp khí thượng đẳng như vậy. Chỉ cần người có tu vi mà tu vi đó không đủ lớn thì một khi duỗi tay về phía nó cũng có thể lập tức hồn phi phách tán. Nhưng Lâu Tự Ngọc chẳng những cầm, mà còn tùy ý thưởng thức.

Điều này chỉ có thể nói lên rằng nàng là một người bình thường đến không thể bình thường hơn.

Tống Lập Ngôn thu ánh mắt đề phòng, chỉ hỏi nàng: “Cái đỉnh này chưởng quầy có nhớ mua ở đâu và mua thế nào không?”

“Không phải nô gia đã nói rồi sao? Đây là Lý Tiểu Nhị mua về từ tiệm đồ cổ bên cạnh. Còn mua thế nào thì nô gia không biết.” Lâu Tự Ngọc chớp chớp mắt, vẫy tay gọi Lý Tiểu Nhị tới.

Lý Tiểu Nhị cúi người đáp: “Đại nhân, tiểu nhân xin làm chứng, chưởng quầy không nói dối.”

“Vậy lúc ngươi mua cái đỉnh này có người hướng dấn không? Hoặc có người nào làm động tác gì khiến ngươi không thể không mua không?”

Câu hỏi này thực kỳ quái, Lý Tiểu Nhị rất muốn đáp là chưởng quầy hiệu cầm đồ kia cứng rắn muốn nhét cho hắn nhưng nghĩ lại thì chưởng quầy nhà mình đã lừa lấy 50 điếu tiền từ tay đại nhân, nếu ngài ấy biết cái thứ này không đáng một xu thì khách điếm sợ là sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn mất.

Vì thế hắn gãi gãi đầu, đáp: “Không có, tiểu nhân chỉ thấy cái đỉnh này độc đáo nên mới mua về.”

“Sư đệ.” Diệp Kiến Sơn thấp giọng nói, “Chuyện này không thể là trùng hợp được.”

Hắn cũng biết chuyện này không thể khéo thế. Nội đan của Thường Thạc nhiều năm chưa từng xuất hiện thế mà lại trùng hợp ở trước cửa khách điếm Chưởng Đăng là sao? Diệt Linh Đỉnh này cũng không phải tùy tay là có thể nhặt được, không có đạo lý nào mà người của khách điếm này có thể dễ dàng mua về.

Có điều phá án cần chứng cứ, Lâu chưởng quầy là đối tượng bị nghi ngờ nhưng lại có đầy đủ chứng cứ chứng minh bản thân vô tội nên cho dù hắn có hoài nghi cách mấy cũng không thể định tội nàng bằng trực giác được.

Cân nhắc một lúc, Tống Lập Ngôn đứng dậy nói: “Cơm trưa mang lên phòng, vất vả cho chưởng quầy rồi.”

Lâu Tự Ngọc thụ sủng nhược kinh (được sủng mà sợ): “Không vất vả, không vất vả, mời đại nhân lên lầu.”

Diệt Linh Đỉnh bị thu vào tay áo hắn, Lâu Tự Ngọc nghiêng mắt nhìn lướt qua, trong lòng không ngăn được lo lắng và bất an.

Nội đan của Thường Thạc không bị hủy thì hậu hoạn vô cùng. Nhưng không biết cái vị sư huynh Thượng Thanh Tư này có địa vị gì mà hắn mới nói không cho phong ấn thì Tống Lập Ngôn đã thật sự dừng tay. Trước mắt nội đan được phong ấn trong tứ hợp trận, không thể hủy cũng không thể hấp dẫn đại yêu đến đoạt.

Ngày khai thương sắp tới, nàng phải nghĩ biện pháp. Dù thế nào cũng không thể để thứ này về kinh đô!

Hải thượng hoa đình – Chương 13

Hề Tùng Chu ngẩn ra, ngay sau đó lộ vẻ tươi cười, kêu một tiếng “Khác Chi”, ra dấu ý bảo Mạnh Lan Đình chờ một lát, sau đó đi qua.

Phùng Khác Chi từ trong xe bước xuống, phịch một tiếng đóng cửa xe rồi đưa lưng về phía Mạnh Lan Đình đứng đầu xe mà cùng Hề Tùng Chu hàn huyên vài câu. Hề Tùng Chu nói: “Ngày hôm qua tôi nghe mẹ nói cậu có đi thăm bà hả? Lúc ấy tôi không có nhà nên không gặp cậu. Mẹ tôi rất là cao hứng, cứ nhắc mãi là cậu có tâm.”

Phùng Khác Chi nói: “Từ nhỏ bà trẻ đều đối với tôi rất tốt. Nếu thân thể bà không có trở ngại là tốt rồi.”

“Đúng, tôi cũng yên tâm. Mai tôi về Thượng Hải. Cậu thì khi nào định đi?”

“Còn không biết, phải xem tình huống đã.”

Hề Tùng Chu nhìn Mạnh Lan Đình còn đứng đằng sau Phùng Khác Chi: “Như vậy tôi đi trước. Cậu cũng khó có lúc về thăm Nam Kinh, cố gắng bồi cha cậu nhiều chút. Sáng mai tôi sẽ lại đến đón Mạnh tiểu thư đi nhà ga, thuận đường đưa cô ấy về Thượng Hải. Vợ chồng giáo sư Chu cũng sắp trở về, luôn ngóng trông nhìn thấy Lan Đình.”

Phùng Khác Chi nói: “Đi đường thuận buồm xuôi gió, tôi không tiễn anh nữa. Tôi vào nhà thay quần áo.”

Hắn hướng Hề Tùng Chu gật gật đầu, xoay người, hờ hững mà đi qua bên cạnh Mạnh Lan Đình, trong mắt phảng phất căn bản không có sự tồn tại của nàng. Hề Tùng Chu nhìn Phùng Khác Chi đi nhanh vào trong, lại nhìn Mạnh Lan Đình, tựa hồ có điểm nghi hoặc. Nhưng hắn cũng không tùy tiện mở miệng dò hỏi, chỉ cùng nàng ước định thời gian khởi hành ngày mai sau đó lên xe lái đi.

Phùng lão gia hôm nay không có khách, Phùng Lệnh Mỹ cũng đi ra ngoài, biệt thự phi thường an tĩnh. Mạnh Lan Đình ở đình viện bồi hồi một lát, phỏng chừng Phùng Khác Chi đã không còn ở phòng khách nữa mới đi vào.

Phòng nàng ở lầu hai, cách thư phòng của Phùng lão gia không xa. Thư phòng lúc này nửa mở. Mạnh Lan Đình biết Phùng lão gia vẫn còn ở bên trong. Lúc nàng đi qua đó để về phòng mình thì nghe được một tiếng gọi từ trong phòng truyền ra: “Má Phùng, gọi nó đến đây cho tôi!”

Má Phùng ai một tiếng, vội vàng đi đi tới phòng Phùng Khác Chi mà gõ cửa.

“Cửa không đóng! Tự mình vào đi!”

Má Phùng nghe tiếng thì đẩy cửa đi vào, thấy Phùng Khác Chi vừa mặc nốt áo sơ mi, vừa đi từ trong phòng tắm ra, giống như vừa mới tắm rửa, tóc còn ướt, ngọn tóc còn nhỏ nước xuống.

Má Phùng ai u một tiếng, vội vàng cầm khăn lông lên thay hắn lau tóc: “Sao cậu muốn tắm mà không nói một tiếng? Nước còn chưa kịp nóng, mùa đông này mà tắm nước lạnh……”

Phùng Khác Chi cầm lấy khăn lông từ trong tay nàng, tự mình lau, vừa làm vừa hỏi: “Chuyện gì vậy má Phùng?”

“Tiểu thiếu gia, mấy ngày hôm trước cậu đi nơi nào? các cô nãi nãi đều tìm khắp nơi. Bây giờ lão gia gọi cậu tới thư phòng.” Má Phùng nhìn hắn, thần sắc có điểm lo lắng.

Phùng Khác Chi ném khăn lông, ngón tay tùy ý cào cào mái tóc rồi mở cửa đi ra ngoài.

“Tiểu thiếu gia, cậu nói chuyện cẩn thận chút, lão gia đang không vui đó……” Má Phùng đuổi theo, thấp giọng nhắc nhở.

Phùng Khác Chi quay đầu lại, hướng về phía bà nhe ra hàm răng trắng: “Ông ấy vui mới lạ đó. Yên tâm đi má Phùng!”

“Cha tìm con à?” Phùng Khác Chi đẩy cửa ra, đi vào.

Lão Phùng nhìn hắn: “Ngươi còn biết mà trở về hả?”

“Không phải cha nói không cho con về sao?” Phùng Khác Chi trả lời một câu, ngữ khí tùy tiện.

Lão Phùng cố nén tức giận, mắng hỏi: “Mấy ngày hôm trước, ngươi rốt cuộc đi nơi nào lêu lổng hả? Có biết các tỷ tỷ đều tìm ngươi khắp nơi không?”

Phùng Khác Chi nói: “Con ở khách sạn hoàn cầu đường Ái Huệ, như thế cha thanh tịnh và con cũng cũng thanh tịnh. Có việc gì không?”

Lão Phùng ngẩn ra. Nhi tử chạy, ông vốn nghĩ nó sẽ qua nhà tỷ tỷ nhưng không có, đêm giao thừa cũng không thấy bóng người. Lẽ ra, nếu nó đến khách sạn lớn nào ở Nam Kinh thì bọn họ sẽ báo ngay nhưng gọi cho mấy cái đều không thấy hắn tới đó.

Cho nên lão Phùng nhận định hắn chạy tới mấy nơi thanh sắc lêu lổng rồi. Trong cơn giận dữ ông cho người tìm khắp nơi, khiến giám đốc các khách sạn lớn ở Nam Kinh đều cảm thấy bất an, sợ kẻ nào không có mắt mà chứa chấp Phùng gia nhi tử thì mình sẽ gặp xui xẻo, mấy năm sợ cũng không được yên thân.

Không nghĩ tới mấy ngày nay Phùng gia công tử lại ở trong khách sạn ở đường Ái Huệ. Phòng ở đây còn kém xa các khách sạn lớn, chỉ chuyên dành cho tiểu thương, nhân viên công ty đi công tác ở tạm thời, hoặc các viên chức bình thường của chính phủ.

Nhi tử tuy rằng hỗn trướng đến không có dạng, nhưng từ nhỏ đến lớn cũng không nói dối. Điểm này, lão Phùng cũng biết. Sau khi xác định hắn cũng không có ở bên ngoài lêu lổng thì lửa giận tích tụ mấy ngày cũng thoáng được đè xuống một chút. Ông lạnh lùng mà nói: “Ngươi một người chạy tới cái chỗ đó để làm gì?”

“Đọc sách, ngủ, nghe bên ngoài đốt pháo, nghĩ về nhân sinh. Như vậy ngài vừa lòng không?” Ngữ khí của hắn mang theo chút tự giễu.

Lão Phùng chậm rãi phun ra một hơi trong lòng, chờ nỗi lòng dần dần ổn định mới trầm khuôn mặt nói: “Ta kêu ngươi tiến vào, là muốn cùng ngươi nói chuyện này. Năm nay ngươi không cần đi Thượng Hải, ở lại Nam Kinh làm việc cho ta!”

“Không có khả năng!” Phùng Khác Chi mí mắt cũng chưa động, há mồm liền quả quyết cự tuyệt.

Lão Phùng nhớ tới điệu bộ lần trước người ở Thượng Hải gọi điện đến, một bộ ấp úng muốn nói lại thôi thì giận dữ: “Ngươi làm ra chuyện đó rồi thì hiện tại toàn bộ người ở tòa thị chính Thượng Hải nhìn thấy ngươi giống nhìn thấy quỷ đâu.”

“Vậy bọn họ chỉ cần cách con xa một chút là được. Lúc trước tuy rằng cha bắt con vào nhưng hiện tại con thấy nơi đó khá tốt, có cảm tình, không muốn đi chỗ khác! Huống chi, không công lao cũng có khổ lao. Nếu không phải con nổ súng thì đâu đánh ra sâu mọt. Tuy nói sâu mọt đánh không xuể nhưng ít một người thì đối với quốc gia dân tộc cũng tốt hơn một chút. Qua hai ngày nữa còn sẽ về, tòa thị chính không chừng là khua chiêng gõ trống thưởng huân chương cho con nữa kìa.”

Lão Phùng chán nản, đầu ngón tay chọc cái mặt nghiêm trang của nhi tử: “Ngươi…… Ngươi là thật muốn đem ta tức chết có phải hay không?” Ông kéo ngăn kéo ra, đem một cuốn sổ bên trong ra mà ném về phía nhi tử.

“Đồ hỗn trướng nhà ngươi mở to mắt nhìn cho rõ xem một năm qua ngươi ở Thượng Hải đã làm được cái chuyện tốt gì!”

Quyển sổ kia đập vào mặt Phùng Khác Chi rồi rơi xuống trên mặt đất. Phùng Khác Chi sờ sờ mặt, cúi người nhặt lên, mở ra, phát hiện đó là một quyển ký lục ghi lại mỗi ngày mình đi những chỗ nào, làm cái gì. Chữ viết bên trên xiêu xiêu vẹo vẹo, còn có không ít chỗ để trống nhưng mỗi mục đều liệt kê rõ ràng.

Hắn tùy tiện lật giở.

……

“Ngày mùng ba tháng mười, đua chó, thắng hai ngàn, ngay tại chỗ quyên cho Hội ái quốc đồng tử quân.”

“Ngày mùng bốn tháng mười, chơi bóng đá.

“Ngày mùng sáu tháng mười, cùng đám người Trương công tử, Diêu công tử đến Đại thế giới chơi. Hai giờ sáng mới về.”

……

“Ngày 13 tháng 11, bao hết nhà hàng Richard, ủng hộ  ngôi sao ca nhạc, Chung tiểu thư mới được tuyển năm nay.”
Phùng Khác Chi ầm ầm lật vài tờ đến trang cuối cùng.

“Hai mươi ba tháng chạp cùng đám Hoàng công tử, Lâm công tử đến nhà hàng Đại Hoa đánh bài suốt đêm. Ngày kế sau giờ ngọ mới đi ra, tới nhà ga đón Bát tiểu thư……” Phía dưới còn có mấy cái ký lục nhưng không biết vì cái gì mà lại giống như bị thấm ướt đến nhòe nhoẹt không nhận ra.

“Nhìn xem ngươi đã làm những cái gì!” Lão Phùng rít gào. “Ngày 23 năm ngoài ngươi rốt cuộc đã làm cái việc tốt gì mà lão Diêm cũng không dám để ta xem?”

Phùng Khác Chi nhìn chằm chằm nét mực ở phía trên, mày hơi nhíu không nói.

“Đem lão Diêm gọi tới đây cho ta!” Lão Phùng bỗng nhiên xả giọng, rống lên một tiếng.

Lúc lão Diêm từ Thượng Hải tới Nam Kinh, ánh mắt đầu tiên đã nhìn thấy Mạnh Lan Đình ở xa xa, vừa nhận ra thì sợ tới mức thiếu chút nữa rớt cằm, xoay người liền yên lặng đem cuốn ký lục kia xóa mấy dòng cuối rồi mới nộp lên lão gia. Lúc này ông bị Phùng lão gia gầm lên gọi đến thì đành căng da đầu đi vào, thấy tiểu thiếu gia đứng ở đằng trước cái bàn của lão gia, đang thâm trầm mà liếc mắt một cái thì cười như không cười nói: “Lão Diêm thúc, nhìn không ra tới hóa ra thúc là tai mắt của cha tôi ha? Thúc còn nhớ rất rõ nữa chứ. Có cái tôi đã quên mà thúc còn nhớ hơn tôi.”

Hắn cũng không có chất vấn oán trách như trong tưởng tượng nhưng chính mình cũng đủ áy náy. Lão Diêm không dám nhìn hắn mà chỉ cúi đầu lẩm bẩm mà giải thích: “Cửu công tử…… Tôi cũng là được lão gia phân phó…… Cậu đừng giận tôi……”

“Ngươi không phải nói gì với nó hết!” Lão Phùng hung hăng mà vỗ bàn. “Lão Diêm, ngươi nói cho ta, ngày 23 đó rốt cuộc nó đã làm cái gì mà ngươi không dám ghi vào?”

Trán lão Diêm đầy mồ hôi, liều mạng cúi đầu mà nói: “Lão gia…… Ngày đó…… Cửu công tử đi đón Bát tiểu thư, cái gì cũng không làm…… Bên dưới là tôi nhớ nhầm nên sau đó mới xóa đi……”

“Toàn coi ta hồ đồ rồi, đến ngươi cũng không coi ta ra gì. Hảo, hảo……”

Lão Diêm nhìn Phùng lão gia sắc mặt biến xanh, hiển nhiên là tức điên thì thịch một tiếng vội quỳ xuống, dập đầu: “Lão gia, Cửu công tử hắn…… Thật sự không làm……”

“Được rồi! Cũng không phải việc gì to tát lắm!” Phùng Khác Chi bỗng nhiên không kiên nhẫn mà nói một câu, quay đầu nói với phụ thân đang phẫn nộ: “Cha muốn biết thì con liền nói. Ngày đó con còn làm một việc nữa, đó là ở trên phố cắt tóc của người ta!”

“Cửu công tử, cậu đừng nói bậy ——” Lão Diêm hoảng sợ, vội vàng ngẩng đầu, liều mạng nháy mắt với Phùng Khác Chi.

“Người nọ không phải người khác, chính là Mạnh gia nữ nhi!” Phùng Khác Chi mặt không biểu tình mà nói.

Thư phòng tức khắc lâm vào một trận yên tĩnh quỷ dị. Lão Diêm kinh hồn táng đảm mà xoay mặt, nhìn về phía Phùng lão gia hai mắt phảng phất bốc hỏa, khuôn mặt tức đến run rẩy.

“Người đâu, mang roi ngựa đến đây, ta phải thực hiện gia pháp ——”

Mạnh Lan Đình vốn trong lòng thấp thỏm, vẫn luôn ở trong phòng mình mà lặng lẽ nghe ngóng bên ngoài. Đúng lúc này đột nhiên nàng nghe được một tiếng hét kinh thiên động địa, truyền ra từ thư phòng kia.

Lấy thân nuôi rồng – Chương 86

Chương 86: Quỷ sát

 

Trời đông giá rét buông xuống, trời lại mưa khiến cho nhiệt độ càng lạnh hơn. Triệu Phác Chân cùng Văn Đồng rối ren thay Lý Tri Mân hong ấm chăn, tìm áo lông và vớ dày, trong phòng cũng có thêm chậu than mới tính là ổn thỏa. Hầu hạ Lý Tri Mân nghỉ tạm, theo thường lệ Văn Đồng gác đêm, Triệu Phác Chân lúc này mới trở về phòng mình, thu thập một phen mới nghỉ ngơi.

Ngoài cửa sổ tiếng mưa sàn sạt, Triệu Phác Chân lại nghĩ đến những lời nói với Thượng Quan Lân, rồi nghĩ đến tình cảnh hiện giờ của Vương gia. Trong chốc lát nàng nghĩ đến những việc đã trải qua, những năm này ở bên Vương gia, rồi ước định với hắn. Hiện giờ chiến sự đã định, mình có thể rời đi sao? Còn một việc nữa, là việc gì đây? Vương gia có thể nào nghĩ ra một việc khó khắc để làm khó nàng không? Hiện giờ Vương gia ở trong tình hình này, sợ là Đông Dương công chúa càng muốn bành trướng hơn. Hắn triển lộ tài năng quân sự kinh người và cả dã tâm thì không có khả năng không khiến Đông Dương công chúa kiêng kị, sao bà ta có thể ngồi nhìn hắn chậm rãi phát triển chứ? Nhất định là sắp tới sẽ có một loạt âm mưu đấu đá. Những mưa máu gió tanh trong sách sử đang hiện ra, những kiêng kị đối với các hoàng tử, cho dù là Thái Tử cũng không trốn được bị gán cho những tội danh rồi sống sờ sờ mà chết oan.

Vương gia, sẽ ngồi chờ chết sao? Mình ở bên người hắn có thể tự bảo vệ mình sao? Trăm ngàn ý nghĩ nổi lên trong lòng khiến nàng lăn qua lộn lại không ngủ được, chỉ nghe ngoài cửa sổ mưa rơi tí tách. Không biết đã qua bao lâu, nàng mới mơ mơ màng màng nằm mộng, trong mộng Lý Tri Mân khoác áo trắng, bị một đám ngự tiền thị vệ áp tải, trên đầu đeo gông, nàng đứng một bên trơ mắt nhìn hắn bị áp vào ngọ môn, quần chúng xung quanh đang xem náo nhiệt. Mỗi người đều duỗi cổ, giống như vô cùng thích thú mà xem phượng tử long tôn bị trảm. Lý Tri Mân lại quay đầu nhìn nàng, nói câu gì đó, nhưng hắn nói gì? Chung quanh thật sự quá ầm ĩ, nàng nghe không thấy, nàng vô cùng nỗ lực lắng nghe nhưng thực sự quá ồn, nàng không sao nghe được. Trong mộng nàng thực sốt ruột, giống như hít thở không thông, một cỗ lo âu cùng vô lực nghẹn ở ngực. Nàng khổ sở đến cơ hồ muốn nổ tung, nhưng đoàn người chung quanh vẫn vô cùng ầm ĩ, lúc này bỗng nhiên trong đám người có kẻ kêu lớn: “Có thích khách!”

Nàng cả kinh ngồi dậy, phát hiện chính mình đang êm đẹp nằm ở trên giường, trong phòng tối tăm. Hóa ra là mơ ư? Nhưng cảm giác vô lực khiến người ta hít thở không thông kia vẫn như hình với bóng đi theo nàng. Nàng ấn trái tim cứ nhảy lên của mình, cũng không biết có nên thấy may mắn vì đây chỉ là giấc mộng hay lo lắng chuyện này sẽ thành sự thật.

“Có thích khách!”

Nàng mờ mịt nhìn quanh, chẳng lẽ nàng còn chưa tỉnh sao? Nhưng sau đó tiếng ồn ào bên ngoài càng lớn hơn: “Có thích khách!”

Nàng kinh hoàng nhảy dựng lên! Thật sự có thích khách! Nơi này là phủ thành chủ, có trọng binh canh gác, sao có thể có thích khách chứ? Bọn họ muốn ám sát ai? Vương gia, hay là sứ thần triều đình Công Tôn Ngạc?

Triệu Phác Chân vội vàng đứng dậy khoác áo choàng, đẩy cửa ra ngoài nhìn thấy bên ngoài có một đội binh sĩ cầm đao mặc giáp, lúc thấy nàng đi ra thì ngăn cản: “Tướng quân có lệnh, nô bộc các nơi bất động trong phòng, người nào vi phạm coi như đồng đảng với thích khách!”

Triệu Phác Chân vội hỏi: “Là ai bị đâm? Vương gia có mạnh khỏe không?”

Binh sĩ kia chỉ mặt lạnh, không cho nàng ra ngoài, cũng không trả lời câu hỏi của nàng, buộc nàng về phòng, cũng không cho đốt đèn, cái gì cũng không cho làm, chỉ được ngoan ngoãn chờ trong phòng.

Nàng thấp thỏm bất an mà trở về phòng, lại có mấy đội binh lính đi qua lục soát, cái gì cũng không nói, trong đêm đen phủ thành chủ khắp nơi thắp đèn đuốc, chói lọi như ban ngày, bất an từ tứ phía truyền đến.

Thẳng đến khi trời sáng, Thượng Quan Lân sắc mặt ngưng trọng tới đây mang nàng theo, thấp giọng nói: “Vương gia bị ám sát!”

Triệu Phác Chân bị dọa ngây người: “Vương gia làm sao?”

Thượng Quan Lân bước đi ở phía trước: “Bả vai bị trúng một kiếm, không nguy hiểm nhưng trên kiếm có kịch độc, bởi vậy Vương gia hôn mê bất tỉnh, cũng may Công Tôn tiên sinh có bí dược trừ độc của sư môn, cho Vương gia ăn đúng lúc, nếu không lúc ấy độc pđã phát rồi. Hiện giờ Công Tôn tiên sinh đang chẩn trị cho ngài ấy, muốn ngươi đến hỗ trợ cho ngài ấy uống thuốc.”

Triệu Phác Chân nghĩ đến giấc mộng đêm qua, cố gắng bình ổn trái tim đang thắt lại. Bên ngoài phòng của Vương gia đứng đầy binh sĩ thủ v, đề phòng nghiêm ngặt. Thượng Quan Lân đem nàng đưa tới hành lang rồi đứng lại, quay đầu khẽ nói với nàng: “Đừng lo lắng, nếu Vương gia có gì bất trắc, ngươi tới tìm ta.”

Triệu Phác Chân tâm loạn như ma, nghe thấy hắn nói thế thì giống như có ý tứ gì nên lại càng thêm khiếp vía: Đã đến nông nỗi ấy sao? Không phải nói…… Còn có một chuyện lớn nàng cần làm sao? Như thế nào lại thành ra thế này? Nàng không kịp nghĩ nhiều mà đi vào phòng ngủ của  Vương gia, gian ngoài có Công Tôn Nhận, hắn vẫn cứ lãnh đạm như vậy, thấy nàng vào cũngc hỉ lạnh lùng quét mắt một cái rồi lại tiếp tục đứng ở bên cửa sổ.

Công Tôn Ngạc ngồi ở mép giường, đang giúp người ở trên giường bắt mạch, lông mày nhíu chặt. Văn Đồng đang giặt khăn lông, trong phòng đều là mùi thuốc và mùi máu tươi. Triệu Phác Chân tay chân nhẹ nhàng mà đi vào, lúc nhìn thấy Lý Tri Mân thì quả nhiên hắn nằm ở trên giường nhắm chặt hai mắt bất tỉnh nhân sự, sắc mặt tím xanh, môi cũng tím xanh, chăn chỉ che đến hông, thân trên mặt áo lót rộng thùng thình nhưng vẫn có thể thấy trên vai hắn quấn băng gạc trắng tinh.

Người vẫn bình tĩnh từng bước tính kế, vô cùng cường đại hiện giờ nằm trên giường, không biết sinh tử khiến Triệu Phác Chân cũng không biết vì sao lại đỏ vành mắt, nước mắt trào ra. Nàng cũng không dám khóc mà chỉ đành liều mạng chịu đựng, đi qua lấy khăn lông trợ giúp Công Tôn Ngạc. Công Tôn Ngạc xem xong mạch thì nhíu mày, Thượng Quan Lân liền hỏi: “Tiên sinh cảm thấy như thế nào?”

Công Tôn Ngạc lắc lắc đầu: “Ta lấy chút máu về kiểm tra xem, sợ đây là độc của ngoại vực, không tiện phối dược. Chỗ này thành trấn biên thùy, sợ là có nhiều loại dược liệu không kiếm được, tốt nhất vẫn là nhanh chóng đưa Vương gia trở về, ít nhất cũng nên tới một thành trấn lớn hơn mới được.”

Thượng Quan Lân than mấy hơi, lại nhìn Triệu Phác Chân tái nhợt khuôn mặt đứng một bên, thấp giọng nói: “Thượng Quan gia ở phụ cận Lăng thành có cửa hàng, ta sẽ lập tức để bọn họ khẩn cấp thu thập dược liệu, tiên sinh có yêu cầu gì thì cứ nói, ta sẽ sai người khẩn cấp đưa tới.”

Tin Tần Vương bị ám sát trúng độc hôn mê lan truyền nhanh chóng, thích khách là tử sĩ, bị bắt liền nuốt độc tự vẫn, xem xét trên người thì quả nhiên là người Đột Quyết. Tần Vương trúng độc là kỳ độc ngoại vực, không dễ giải được. Tin tức nhất thời bay loạn xạ, nhưng có một tin tức không giống bình thường: Người Đột Quyết đều là tính tình lỗ mãng, làm sao lại dùng độc? Hiện giờ Đột Quyết đại bại, các bộ tộc tham chiến thì chia năm xẻ bảy, Ô Tác Khả Hãn cũng không biết kết cuộc ra sao, ai còn có tâm tư đi độc hại Tần Vương chứ? Nói gì thì độc hại Tần Vương đối với bọn họ cũng có chỗ tốt gì đâu? Nếu thật sự có bản lĩnh lẻn vào phủ thành chủ canh gác nghiêm ngặt để độc hại thân vương thì sao sớm không làm, muộn không làm, lại đúng lúc chiến cuộc đã định mới làm để làm gì? Đã thế thích khách còn mang theo loan đao, để kiểu tóc và mặc trang phục của người Đột Quyết tới ám sát, vậy chẳng khác gì chọc giận đại Càn sao? Người Đột Quyết chỉ không giỏi mưu kế nhưng không phải lũ ngốc a!

Quả nhiên những luận điệu này đều là nói có sách mách có chứng, các tướng sĩ cũng đều nổi lên lòng nghi ngờ. Đúng vậy, vì sao lúc này mới đến độc sát Tần Vương?

Kết luận chính là, đây rõ ràng là người trong nhà làm, là nội tặc, mới có thể tiến vào phủ thành chủ canh phòng nghiêm ngặt, sau đó quen cửa quen nẻo mà một kích tất trúng. Nhưng vì sao lại phải độc sát Tần Vương? Vô nghĩa, đây còn không phải vì muốn chặn đường sao? Chờ Tần Vương hồi kinh thì còn phải tốn công an bài tội danh xử lý, hiện giờ người đang ở biên cương, phái thích khách truy sát thì ai cũng không tìm được chứng cứ. Vậy chủ mưu là ai chứ? Còn có người khác sao? Người được lợi nhất không phải là Đông Dương công chúa có con trai vừa mới dành được chiến thắng vang đội đó sao?

Một phen suy nghĩ cẩn thận này dần truyền ra, tướng sĩ nghe được tất cả đều tin tưởng không hề nghi ngờ. Mọi người lúc này đều chung kẻ thù rồi. Tần Vương là ai chứ? Là hậu duệ quý tộc nhưng lại cùng mọi người xuất chinh đồng cam cộng khổ, lần này đại chiến, hắn lấy bản thân ra làm mồi nhử, thiết lập cạm bẫy mới có thể xoay chuyển chiến cuộc. Trận chiến này trong lòng mọi người đều rõ công lao của hắn là lớn nhất, nhưng giờ thì sao? Thành quả lớn nhất bị người ta nẫng tay trên, hắn cũng nhịn xuống, nhưng cư nhiên còn muốn mệnh người!

Các tướng sĩ tại tiền tuyến đều là liều mạng đổi công danh, xung phong giết địch, lấy huyết nhục tới bảo vệ quốc gia, nhưng có kẻ vì chính trị dơ bẩn mà ám toán khiến người ta vạn kiếp bất phục, thiên hạ còn có việc nào dơ bẩn hơn việc này sao? Thiên hạ này còn công lý sao?

Nghẹn khuất và không cam lòng trước đó vài ngày tích lũy xuống, hiện giờ thêm chuyện này khiến lòng người càng lên men. Rồi cảm giác này biến thành đồng tình với Tần Vương, lại bất bình với thế đạo. Cảm xúc lặng lẽ truyền đi trong tướng sĩ, càng ngày càng lớn, khiến bọn họ lòng đầy căm hận, phẫn nộ và bất bình. Có một vài tướng quân lý ra nên đàn áp việc này nhưng cũng bất mãn ngồi xem, mặc kệ lời đồn đãi càng ngày càng nghiêm trọng.

Ứng Vô Cữu bỗng nhiên tới, mang theo một xe dược phẩm, nói là Phạm Dương tiết độ sứ Ứng Khâm nghe nói Vương gia bị thương nên lệnh cho nghĩa tử Ứng Vô Cữu đưa tới, đồng thời cũng mang đếu một tin tức khiếp sợ khác: Ô Tác Khả Hãn cũng bị đâm, thân đầu phân đôi ở trong trướng của mình. Thích khách là cao thủ phi phàm, nhân ban đêm mà thích sát, một kích đắc thủ. Thân vệ bên người Ô Tác Khả Hãn đều võ nghệ cao cường nhưng cũng không chống cự nổi thích khách. Hiện giờ Đột Quyết vì cái chết của Ô Tác Khả Hãn mà chia năm xẻ bảy, người thì ủng hộ trưởng tử của Ô Tác Khả Hãn, rồi có kẻ ủng hộ tam hoàng tử, cùng ấu tử. Trong vòng mấy ngày mà bọn họ đã hỗn chiến vài lần, xem ra trước khi phân thắng bại thì sẽ không có kẻ cùng triều đình nghị hòa.

Triệu Phác Chân còn tưởng lần trước Ứng Vô Cữu nói sẽ tìm hiệp sĩ giang hồ ám sát là giả, hóa ra lại thành thật.

“Cũng không phải ta phái đi.” Ứng Vô Cữu lại tìm Triệu Phác Chân nói chuyện: “Người ta phái đi trở về nói tính ra ngày Ô Tác Khả Hãn bị ám sát cũng trùng với ngày Vương gia bị ám sát. Hơn nữa thủ pháp của kẻ kia quá chuyên nghiệp, đều không phải người thường có thể làm được, vô cùng dứt khoát và lưu loát gióng như sát thủ chuyên nghiệp. Nhưng sát thủ chuyên nghiệp không tham gia việc nợ nước thù nhà, thu phí lại cực cao.”

Triệu Phác Chân mấy ngày nay vẫn luôn hầu hạ bên cạnh Tần Vương hôn mê bất tỉnh nên có chút mệt mỏi nhưng đầu óc nàng một khắc cũng không ngừng suy đoán bước tiếp theo. Lúc này trong đầu nàng chợt lóe lên, nhớ tới cử chỉ khác thường của Công Tôn Ngạc đêm đó, còn có Công Tôn Nhận luôn như hình với bóng với hắn lại không thấy đâu —— “Thần y quỷ sát”.

Chẳng lẽ, đây mới là lý do thật sự Công Tôn huynh đệ xuất hiện ở chỗ này sao?

“Nghe nói sản nghiệp của Thượng Quan gia đang thu thập dược liệu giải độc khắp nơi……” Ứng Vô Cữu cũng không biết ý nghĩ của nàng, nhìn nhìn nàng, muốn nói lại thôi, nửa ngày mới tiếp tục khuyên nàng: “Ngươi tốt nhất không cần bị cuốn vào những đấu tranh trong triều đình đó. Mẫu thân nói đã biết ngươi xem trọng Vương gia nhưng ngài ấy tự biết cách bảo vệ mình, ngươi vẫn nên để ý đến bản thân chút.”

Triệu Phác Chân biết Thượng Quan Lân gần đây cho người tặng rất nhiều dược liệu giải độc cho Công Tôn tiên sinh khai dược trị bệnh nhưng cũng chỉ có thể khống chế không cho độc khuếch tán mà thôi, Tần Vương vẫn hôn mê bất tỉnh như cũ. Nàng lo lắng sốt ruột nhưng cũng chẳng thể làm gì. Nàng nghĩ tới chuyện của Công Tôn Ngạc, trong lòng nghĩ không biết Vương gia đến tột cùng có biết kế hoạch của Công Tôn huynh đệ hay không, nếu biết…… KVậy chẳng lẽ là hắn an bài những chuyện này sao? Triều đình yêu cầu nghị hòa, hắn liền an bài sát thủ, chỉ cầu cuộc chiến kết thúc, bá tánh ấm no……

Ai biết người như vậy lại vẫn cứ bị đánh lén, ám sát chứ?

Tân An quỷ sự – Chương 262

Chương 262: Giếng tuyền đồng tử

 

Hàm răng bà ta va vào nhau quá lợi hại, nhưng đó là âm thanh duy nhất bà ta có thể nghe được dưới gầm trời này. Tiếng bước chân phía sau cũng không còn nữa. Không biết từ khi nào, nó đã vô thanh vô tức biến mất ở trong màn mưa.

Hoa Cô đem ngón tay nhét vào trong miệng, ổn định hai hàm răng không ngừng va vào nhau của mình, cũng muốn ổn định nỗi lòng hỗn loạn.

Nhưng bà ta thất bại, lòng bà ta loạn nhưng mưa bụi đang giao nhau rơi xuống, hai chân lại giống không chịu khống chế, bước từng bước trầm trọng, kiên định tới bên cái giếng hoang kia.

Đi đến bên cạnh giếng, bà ta dừng lại, nhìn không chớp mắt khe hở lộ ra dưới phiến đá: Phía dưới là cái gì? Trừ bỏ hai cỗ thi thể đã mục rữa thì còn có thể có cái gì chứ?

Phần lưng mập mạp của bà ta đột nhiên run lên, một nụ cười không nhịn được từ đan điền lan lên tận yết hầu: Hoa Cô a Hoa Cô, ngươi điên rồi phải không? Chẳng lẽ, ngươi cũng giống người khác, tin tưởng lời đồn đãi vớ vẩn kia sao?

Hàng mã giết người?

Nghĩ đến đây, bà ta tựa hồ đã hạ quyết tâm, mười ngón phủ lên phiến cục đá, cơ bản không cần dùng lực khí, liền lập tức đem nó đẩy ra.

“Ầm vang.” Cục đá rơi xuống đất, cùng lúc đó, một dự cảm xấu nảy lên trong lòng. Vì sao cục đá lại nhẹ như thế? Năm đó, rõ ràng cần bốn cái gã sai vặt mới khiêng nó lên đè ở miệng giếng được.

Có thứ gì nhoáng lên trước mắt, kim quang lấp lánh, Hoa Cô hơi hơi ngẩng đầu, lại ngơ ngẩn: Phía trước, nào có viên đá gì, kia rõ ràng là một con ngựa, một con ngựa cả người dán đầy hàng mã.

“Lộc cộc lộc cộc……” Trong giếng truyền thanh âm làm kinh động dòng nước. Sợ hãi như dây mây ở miệng giếng, theo chân bò lên người bà ta, đem cả người bà ta quấn chặt. Bà ta muốn chạy, nhưng dưới chân lại mềm nhũn, không làm gì được.

“Ngươi làm bẩn nước giếng, cho nên hàng mã đem ta mang đến.” Một giọng nói của tiểu hài tử từ miệng giếng bay ra, ào ào, giống một cơn gió vô thanh vô tức, phần phật một chút đã không thấy tăm hơi đâu.

Hoa Cô nhìn chằm chằm miệng giếng, đầu giống như nứt thành hai nửa, một nửa bên trong còn dư lại chút lý trí, lặp đi lặp lại trong đầu câu nói: Làm gì có chuyện hàng mã giết người, là giả, là giả. Nhưng một nửa còn lại thì vang lên thanh âm càng lúc càng lớn, không ngừng nói: Nước giếng, ngươi làm bẩn nước giếng, cho nên hàng mã đem ta mang đến.

“Bang.” Miệng giếng xuất hiện hai bàn tay tái nhợt, giữa khe hở ngón tay tràn đầy cáu bẩn, đốt ngón tay cong lên, mười ngón túm chặt thành giếng.

Hoa Cô rốt cuộc cũng động đậy, bà ta lui về phía sau hai bước, hai chân rốt cuộc chịu không nổi sợ hãi trong lòng nên cả người ngã ngồi trên mặt đất.

Một cái đầu chậm rãi dò ra khỏi miệng giếng, đầu tiên là tóc, sáng bóng như sơn đen, tiếp theo là mặt, trắng bóng, hung ác và nham hiểm, đồng thời không có sinh khí, hai tròng mắt màu trắng nhìn chằm chằm bà ta, giống một con dao nhọn cắm thẳng vào ngực bà ta.

“Ngươi……” Hoa Cô dùng cánh tay chống đỡ thân thể cồng kềnh, cố dịch về phía sau nhưng chẳng di được chút nào.

Người trong giếng lại đi ra, thân thể trần trụi, dưới chân ướt sũng, giẫm trên mặt đất thành từng hố một.

“Ngươi làm bẩn giếng.” Hắn đi đến bên người Hoa Cô, cúi người nhìn bà ta, bên miệng vẫn lặp lại những lời này.

Đột nhiên, hắn cong người thành một góc nhọn, đầu chỉ cách Hoa Cô trong gang tấc, dòng nước nhỏ từ trong tóc hắn xuống miệng mũi bà ta. Nước thật thối, không phải vị hôi tanh của bùn đất mà là của thi thể thối rữa.

Nước càng rơi càng nhiều, Hoa Cô bị sặc, liền mạng ho, nhưng không cách nào ngăn cản dòng nước thối đó chảy tới.

“Ngươi làm bẩn nước giếng, cho nên…… Hàng mã đem ta mang đến…… Hàng mã……”

“Trên đời làm gì có chuyện hàng mã giết người, đều là bịa ra, chính tai ta nghe được, đều là người ta bịa ra.” Bà ta dùng hết sức lực toàn thân để phun ra tiếng rít gào cuồng nộ nhất cuộc đời này.

Nước trong miệng mũi biến mất, dưới thân cũng không có cỏ hoang không người dọn, mà là thảm cỏ được cắt tỉa chỉnh tề từng khối. Hoa Cô phí sức thật lớn mới mở được mắt, bà ta phát hiện bên cạnh có một người đang ngồi xổm. Chẳng qua người kia không phải hài đồng trong giếng mà nàng mặc quan phục, trong tay cầm một cây trường kiếm, vẻ mặt khó hiểu nhìn chằm chằm mình.

“Hoa Cô, ngươi mới vừa nói cái gì? Hàng mã giết người, đều là giả sao?” Giọng Tưởng Tích Tích phảng phất từ nơi xa xôi nào đó bay tới. Trong lòng Hoa Cô vẫn là một mảnh hỗn độn, bà ta nhẩm lại câu đó nhiều lần mới tiêu hóa được. Bà ta bò dậy, nhìn thấy mình đang đứng cạnh một cái giếng ở hậu viện của Tê Phượng Lâu. Chỗ này làm gì có cái giếng hoang nào, làm gì có hài tử choai choai nào.

Bà ta nhìn Tưởng Tích Tích, “Sao ta lại ở chỗ này?”

“Ngươi hỏi ta? Ngươi mới vừa rồi thấy ta đến thì giống như thấy quỷ, lao ra khỏi nhà liền chạy tới chỗ này, ta đuổi theo hơn nửa ngày mới đuổi kịp.” Tưởng Tích Tích nhìn chằm chằm khuôn mặt còn trắng hơn giấy của bà ta, đôi mắt chậm rãi nheo lại, “Hoa Cô, hàng mã giết người, rốt cuộc là thật hay là giả? Trong lòng ngươi có phải cất giấu bí mật gì không?”

Hoa Cô không rên một tiếng đứng lên, bà ta không nhìn Tưởng Tích Tích một cái nào, bước chân xiêu xiêu vẹo vẹo đi về tiền viện. Đi được vài bước, thân thể cao lớn của bà ta ầm một cái ngã xuống. Nữ nhân cường tráng hơn cả nam nhân này thế nhưng ở trong mưa lạnh và kinh hách cũng bị dọa cho hôn mê bất tỉnh.

Không biết qua bao lâu, cũng không biết đã trải qua bao nhiêu cơn ác mộng, ngoài cửa sổ mưa đã ngừng, trời lại sáng. Ánh mặt trời sau cơn mưa là sáng lạn nhất, một chùm ánh sáng từ song cửa chiếu vào, khiến mắt bà ta đau đớn.

Nhắm mắt dưỡng một lát thần, vừa muốn đứng dậy thì bà ta nghe thấy bên ngoài truyền đến tiếng nói chuyện cố ý đè thấp.

“Hoa Cô cô không ở đây sao? Đồ bà ấy đặt ta đã thêu xong, đặc biệt mang đến để Hoa Cô xem qua.”

“Yến cô nương, làm phiền cô nương rồi, nhưng gần đây thân thể cô cô không khỏe, mấy ngày trước còn bị phong hàn, hiện tại đang nghỉ ngơi. Chúng tôi cũng không dám đi quấy rầy.”

“Không sao, mấy ngày nữa ta lại tới một chuyến vậy. Nhưng mà…… Nghe nói nơi này gần đây xảy ra chút tai họa, là thật hay giả vậy?”

“Làm gì có giả. Ta nói cho cô nương biết, nhưng cô đừng nói ra ngoài, không phải sắp đến thanh minh sao? Mấy ngày trước cô cô thiêu hàng mã, kết quả, hình như là đem thứ gì không tốt từ âm phủ tới đây, ai nha, đã nhiều ngày trong này bị nháo đến gà chó không yên. Tê Phượng Lâu đã mấy ngày không mở cửa rồi.”

“Thứ gì mà tà môn thế?”

“Thật ra có không ít người đã gặp qua, nó giống như một hài tử choai choai, chừng mười tuổi, cả người ướt đẫm, như là mới từ trong sông bò ra.”
……
……
Đám người bên ngoài yên tĩnh trong chốc lát, không bao lâu sau, giọng Yến Nương lại vang lên, “Hóa ra…… Là hắn ……”

“Cô nương, ngươi biết nó là thứ gì sao?”

Hoa Cô vểnh tai, nín thở ngưng thần.

“Giếng tuyền đồng tử, ở quê chúng ta mọi người thường nói, nếu có người chết trong sông hay trong giếng thì phải lập tức vớt lên nếu không làm bẩn nguồn nước rồi thì dẫn giếng tuyền đồng tử ra tới.”

Gái già gả bảy lần – Hoa Minh

Gái già gả bảy lần thuộc thể loại huyền huyễn, không quá xuất sắc nhưng cũng đủ hay để đọc. Truyện này cả mạch đều bình bình, không có gì quá đau thương, thỉnh thoảng điểm thêm chút ngô nghê, hài hước và vui vẻ. Truyện cũng không quá dài nên đọc xong rất nhanh.

Gái già là chỉ gái già nhà họ Chân, năm lần bảy lượt kén rể nhưng người người đều chết trước khi kịp làm lễ. Nàng nổi tiếng đến độ hoàng thượng cũng biết. Thế nàng có buồn không? Cũng không buồn lắm thì phải. Vì người trong lòng nàng là công tử sát vách Vân Phi Bạch. Mà Vân Phi Bạch dường như cũng rất thích nàng. Vào một ngày đẹp trời, Vân Phi Bạch ngỏ lời muốn rước nàng về nhà. Dĩ nhiên là Ly Xuân rất vui mừng, nhưng đến sáng hôm sau Vân Phi Bạch lại bị ốm một trận, ốm dậy thì quên hết chẳng nhớ nàng nữa.

Thế rồi đệ đệ của Vân Phi Bạch lại đột nhiên xuất hiện và quấn lấy Ly Xuân. Hắn tên là Vân Châu. Và hóa ra Vân Châu đã từng gặp Ly Xuân từ khi hai người còn nhỏ. Hắn là người đầu tiên nói sẽ cưới nàng nhưng rồi lại bỏ đi để nàng mòn mỏi chờ đợi.

Cứ thế Ly Xuân dây dưa không dứt được với huynh đệ nhà họ Vân. Một người luôn quấn lấy nàng, còn một người luôn quên nàng. Mà ai cũng không biết được một kiếp này của bọn họ chỉ là một khoảng ngắn ngủi diễn lại câu truyện còn dang dở của họ từ kiếp trước.

Hóa ra Ly Xuân là một thủy quỷ, lúc nàng còn ở địa phủ đã quen con trai của Minh Vương là Vong Xuyên và vị tiên Ngọc Hành trên trời. Nàng quen Vong Xuyên trước, lại ngỏ lời với Ngọc Hành trước. Nhưng khi ấy nàng đâu đã biết thế nào là yêu.

 

Kết truyện HE. Nam chính là ai thì các bạn tự đọc để biết nhé. Nói chung truyện đọc hay.

Ôn nhu bán lượng – Chương 1.1

Tiết tử

Mùa xuân.

Bên dòng sông xanh nhạt, có dưỡng liễu theo gió lắc lư.

Nam nhân gác một chân, vạt áo vén lên, ngồi thoải mái bên trên con thuyền.

Con thuyền không hề nạm vàng nạm bạc, nhưng chỗ nào cũng là rường cột chạm trổ, mái cong không phải khắc thần thú hoặc tiên nhân mà là phi tiên mặc áo màu xanh. Chiếc thuyền hai tầng này được làm từ gỗ lim, hai bên sườn của thuyền còn được trang trí bằng ngọc lưu ly bảy màu sang quý. Trên hành lang có treo sa mỏng, vừa đến buổi tối đèn được thắp lên thì ngọc lưu ly sẽ tỏa sáng khiến cả con thuyền biến thành một viên bảo thạch lớn, khiến người ta mê muội.

Mặc dù hiện tại là ban ngày nhưng chiếc thuyền này vẫn hấp dẫn ánh mắt người khác.

Gió xuân thổi bay màn trướng trên thuyền, thổi tung hàng dương liễu xanh ngắt. Một bên có người thổi tiêu, đánh huyền cầm, tiếng nhạc theo gió phiêu đãng, ở trền tầng hai của con thuyền còn có vũ kĩ đang múa theo điệu nhạc.

Thường thường đích, mọi người còn có thể nghe thấy trên thuyền truyền đến tiếng cười oanh oanh yến yến. Nhưng giờ phút này những nữ nhân đó cũng không dám đến quấy nhiễu hắn.

Nam nhân đang ngồi ở trên thuyền kia không búi mái tóc dài trên đỉnh đầu mà ngược lại để tóc đen tung bay, vạt áo để nửa mở, không hợp lễ nghi mà để lộ ra hơn phân nửa bộ ngực cường tráng, một sợi dây thừng màu đen buộc một cái bùa bình an và một cái khóa rũ xuống bên hông hắn.

Hắn cầm một bầu rượu, vẻ mặt đạm mạc mà nhìn mọi người đang đi lại trên phố, thi thoảng lại nâng bầu rượu lên uống mấy ngụm.

Những người trên đường đều né tránh ánh mắt của hắn, nhưng sau đó vẫn chỉ trỏ bàn tán về con thuyền xa hoa này.

Ở trong thành Tô Châu này mỗi người đều biết chiếc thuyền này và đều biết hắn.

Hắn là Chu Khánh.

Từ xa, lại cách một tầng lụa mỏng của chiếc mũ trùm nhưng nàng vẫn nhìn thấy chiếc thuyền kia và hắn từ trên bờ.

Nàng hẳn là phải dời tầm mắt.

“Chu Khánh, là Chu Khánh. . . . . .”

“Chu Khánh đến đó. . . . . .”

“Đừng nhìn, đừng nhìn, mau chuyển mắt đi. . . . . . Đừng nhìn hắn. . . . . .”

Tiếng nghị luận nho nhỏ vang lên như con sóng gợn, từ chỗ hắn truyền đến, giống như con thuyền của hắn không chỉ rẽ nước sông để đi mà còn gạt cả đám người trên bờ ra nữa.

Hắn là ác bá.

Trong nháy mắt thấy chiếc thuyền hoa cùng nam nhân này thì mọi lời đồn đại nàng từng nghe được trong chớp mắt đã dâng lên. Hắn không phải hoàng thân quốc thích, cũng không phải quan lại, lại càng không phải phú thương có tiền nhất trong thành này, nhưng ở đây, cho dù là ai thì cũng phải kiêng nể hắn ba phần.

Việc kinh doanh của hắn trong thành này hơn phân nửa là thanh lâu, song bạc, tất cả tam giáo cửu lưu đều do hắn quản, tất cả mọi người trong thành từ người bán hàng rong, đến thương nhân đều biết được muốn làm ăn phải đến gặp mặt hắn trước, để hắn biết mặt mới có thể bình an mà làm ăn.

Cha hắn Chu Báo, vốn là lục lâm đạo tặc, sau khi quy thuận triều đình thì được một chức quan. Chức quan kia không lớn, nhưng Chu Báo lại rất biết cách luồn cúi. Ông ta nhận chức quan kia không phải vì ham danh.

Mà là vì lợi.

Trong hơn mười năm ngắn ngủi, Chu Báo đã thu phục được mọi thế lực lớn nhỏ trong thành, lấy tiền tài đút lót quan viên, dùng võ lực uy hiếp thương gia, sớm trở thành ác bá một phương khiến đám dân chúng trong thành Tô Châu đều vô cùng sợ hãi.

Ai cũng biết trên chữ nhẫn là một cây đao, không ai dám mạo hiểm.

Chu Báo coi trọng nhất chính là lợi ích vì thế cho tới bây giờ ông ta chưa bao giờ buông cây đao kia. Mang tiếng đã cải tà quy chính nhưng ông ta vẫn chẳng khác gì một tên đạo tặc, chỉ là ông ta thông minh, thay đổi phương thức cướp bóc, để người ta phải ngoan ngoãn đi đến trước cửa dâng lợi ích cho mình.

Người ta muốn buôn bán trong thành thì nhất định phải đến tửu lâu ở trước đại miếu của Chu Báo để mua bùa bình an, nếu không đủ tiền mua bùa bình an thì nhất định sẽ có mấy tên du thủ du thực đến nháo cho ngươi không bán được thì thôi.

Chu Báo làm ăn đến vô cùng vui vẻ, mở tửu lâu, mở thanh lâu, mở song bạc, mở cửa hàng các loại. Thủ hạ của hắn đều là những kẻ có bản lĩnh, lại nghiêm túc hiếm có như một đội quân nhỏ thế nên ngay cả quan phủ cũng bởi vì đủ loại nguyên nhân mà đối với hành vi của hắn mắt nhắm mắt mở.

Chu Báo là ác bá, là ác bá đích thực chứ không phải giả. Không ai có thể làm gì ông ta, những thương gia có ý đồ tố giác ông ta cuối cùng đều bị hãm hại phải vào tù, hoặc xấu hơn là mất mạng.

Ba năm trước đây, Chu Báo bị bệnh, dần dần không lộ diện nữa, cơ hồ thoái ẩn. Mọi người cứ nghĩ sau khi con ông ta là Chu Khánh tiếp quản cơ nghiệp thì có lẽ tình hình sẽ tốt hơn.

Ai ngờ, Chu Khánh cũng chẳng khá khẩm hơn gì. Người này có khi còn tàn nhẫn hơn cha mình, khiến người ta không khỏi kiêng kị.

Thuyền chậm rãi đi qua bên người nàng, gió xuân lướt qua mặt nàng, thổi tung mành sa trên mũ nàng khiến dung nhan bị che khuất liền lộ ra ngoài.

Hắn thấy nàng, hai người mắt đối mắt mà nhìn nhau. Nàng hẳn là phải dịch chuyển tầm mắt giống như những người khác trên đường, hoặc bày ra bộ dáng sắp ngất đi như những cô nương khác, tệ hơn nữa thì cũng phải khẩn trương giống nha hoàn bên người nàng kia.

“Tiểu. . . . . . Tiểu thư. . . . . .” Linh Nhi khẽ run run cất giọng nhỏ bé ý đồ nhắc nhở nàng nhưng lại không nói được hết câu, chỉ lắp bắp vài tiếng rồi im bặt.

Nàng không dịch chuyển tầm mắt, nàng vẫn tiếp tục nhìn hắn ở cái nơi có liễu xanh và gió xuân mơn mởn này. Nhìn thấy hắn chậm rãi đi thuyền mà đến, nhìn thấy hắn chậm rãi đi qua trước mắt, rồi lại thấy hắn lạnh lùng nhìn nàng.

Nam nhân kia nhìn nàng một lượt từ đầu đến chân, tầm mắt ngừng lại trên chiếc giày thêu cây cỏ ngô của nàng.

Chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi kia mà lòng nàng dâng lên một cỗ phiền não.

Hắn cố ý, nàng biết. Không giống những vị tiểu thư nhà hơi có chút danh vọng trong thành khác, nàng không quấn chân, ngay cả đại bộ phận các cô nương trên thuyền của hắn cũng đều bó chân. Đầu năm nay, các cô nương đều phải bó chân, đó là một loại tượng trưng cho thân phận. Bó chân chứng tỏ cô nương được trong nhà nuôi dưỡng tốt, có như thế thì bọn họ mới có thể gả được vào nhà tốt.

Nhưng nàng không bó. Cha nàng có tiền, rất có tiền nhưng nương nàng không yêu thương nàng.

Nam nhân chậm rãi giương mắt, nhìn thấy mặt nàng thì nhướng mày, sau đó nâng bầu rượu trực tiếp rót một ngụm vào miệng. Khi hắn buông bầu rượu kia thì rượu trắng sót trên môi khiến môi hắn càng hồng, dưới cảnh xuân còn hồng hơn cả môi các cô nương, giống như bôi son.

Gió ngừng, mành sa trên mũ nàng lại rơi xuống. Nhưng cách một tầng lụa trắng nàng vẫn có thể nhìn thấy nam nhân kia vẫn tiếp tục nhìn nàng, khóe miệng nhếch lên, thần thái tựa tiếu phi tiếu, mang theo một chút trào phúng.

Vẻ mặt mị hoặc kia lộ ra vẻ tươi đẹp, có một loại quyến rũ khó cưỡng. Rõ ràng hắn là nam nhân nhưng so với nữ nhân còn mê người hơn, khiến trái tim người ta không hiểu sao đập loạn nhịp.

Nàng dời mắt, quay đầu tránh đi. Linh Nhi vội vàng đi lên trước cùng nàng. Nhưng mặc dù đưa lưng về phía nam nhân kia thì nàng vẫn biết hắn đang nhìn mình.

Nàng có thể cảm nhận rõ ràng tầm mắt hắn nóng bỏng, như hình với bóng mà đuổi theo nàng.

 

Chương 1

Đó là một ngày nắng to, trước miếu lớn.

Xe ngựa lộc cộc đi qua con phố dài, ngồi trên xe nàng có thể nhìn thấy đám đông náo nhiệt qua cửa sổ nhỏ.

Hôm nay là hội chùa, trên đường người đến người đi náo nhiệt vô cùng. Thành tây chật ních người là người, bao gồm hàng rong các loại, đầu phố có người đang điều khiển con khỉ làm xiếc, biểu diễn ảo thuật. Ở đầu phố còn lại thì có gánh hát, sau một vở hát, mấy diễn viên đang ở trên sân khấu hát hí khúc. Bên dưới chật ních nam nhân và nữ nhân ngồi hai bên riêng biệt.

Xe ngựa đi về phía trước, lúc đi qua một tòa nhà ba tầng rộng rãi, tuy nàng không thấy được toàn bộ tòa nhà nhưng một chữ “Đương” trên rèm cửa lại cực kỳ bắt mắt.

Chữ “Đương” to lớn kia khiến lòng nàng căng thẳng. Xe ngựa không dừng lại mà tiếp tục đi về phía trước, vượt qua tòa nhà kia và cả cửa miếu. Có điều nàng vẫn không thể khống chế được mà nhớ tới năm đó.

Nàng vẫn còn nhớ rõ tình cảnh lần đầu tiên nhìn thấy nam nhân kia. Mỗi một chi tiết đều giống như mới ngày hôm qua, mọi thứ như vừa mới phát sinh. . . . . .

Năm năm trước ——

Lúc nàng ra khỏi cửa thì trời còn chưa sáng, sương mù mênh mang khiến mọi thứ đều trở nên mơ hồ không chân thực.

Một khắc bước ra khỏi cánh cửa kia tim nàng đập rất nhanh, trong lòng bàn tay có chút lạnh lẽo. Tuy mới đổi nam trang, mặc quần áo của nam hài, trước khi ra khỏi cửa nàng còn ngắm mình trong gương mãi, kiểm tra lại thật kỹ để xác định mình thoạt mình trông giống một nam nhân, nhưng lúc đó nàng vẫn có chút khẩn trương.

Hành vi này của nàng nếu bị người ta phát hiện thì đời này của nàng liền xong. Nhưng nàng nghĩ đến Thúy di đang nằm trên giường sốt cao không ngừng liền cắn răng một cái tiếp tục nhấc chân đi ra ngoài cửa, rồi quay người lại khép cánh cửa phía sau lưng mình.

Trong đám sương mù, mọi nơi đều im ắng.

Nàng ở trong một tiểu biệt viện ở ngoài thành, nếu muốn đi đến trong thành thì phải đi thêm một canh giờ nữa. Nàng vô cùng khẩn trương mà đi trên đường, lúc người đầu tiên xuất hiện trước mắt, trái tim nàng đập nhanh đến mức giống như sắp nhảy ra khỏi miệng.

Nhưng người nọ cầm hai bó rau xanh đi qua bên người nàng.

Nàng buộc chính mình đi về phía trước thật chậm rãi, trên đường càng ngày càng nhiều người, ngay từ đầu nàng gặp ai cũng sợ bị người ta gọi lạ, trong lòng bàn tay đổ đầy mồ hôi nhưng một người, hai, rồi ba và bốn, càng đến gần cửa thành thì người càng nhiều nhưng không ai liếc nàng một cái nào.

Khiếp đảm lúc mới ra cửa chậm rãi lui dần, lúc phát hiện chẳng ai để ý đến mình thì nàng cũng dần an tâm hơn.

Lúc nàng rốt cuộc cũng đi được đến trước cổng thành thì thấy hàng người xếp hàng chờ vào dài dằng dặc, xung quanh còn có người bán đồ ăn sáng, cũng có người ở ven đường bán bánh bao, bánh mỳ, nàng nhìn nhìn nhưng không tiến lên mua mà chỉ gia nhập vào hàng người dài đang chờ vào thành.

Vừa đến thời gian mở cửa thành thì đã thấy thủ vệ quan binh đi đến. Tim nàng lại đập ầm ầm, nhưng nàng cũng không bị làm khó dễ gì. Chờ những người buôn bán và thương nhân ào ào kéo vào thì nàng cũng đi tới chơ thành tây náo nhiệt nhất.

Nàng đi theo những người đó đi đến trước cửa hàng cầm đồ nhưng cửa chính của nó còn chưa mở, nàng đứng đó lại sợ người ta nhận ra thân phận nữ nhân của mình nên không dám đứng trên đường cái àm đi tới một con ngõ nhỏ ở đối diện.

Trong lúc đợi cửa hàng cầm đồ kia mở cửa, nàng đưa tay sờ sờ chuỗi ngọc châu mà nàng để trong ngực, sợ bản thân vì quá khẩn trươgn mà làm rơi mất.

Nó vẫn còn ở đó, hoàn hảo mà nằm trong ngực nàng.

Thúy di nói xuyến ngọc châu này là quà cha nàng tặng nương nàng khi bà mới gả đến đây, nó được bà coi như bảo bối.

Nương nàng là chính thê, nhà mẹ đẻ là thư hương thế gia, tổ tiên còn có người làm trong Văn Uyên Các, là đại quan trong triều, thay Hoàng Thượng viết thư, hoặc thánh chỉ. Nương là tiểu thư khuê các, mặc bộ đồ cưới nho nhỏ, đi giày thêu nho nhỏ đính vàng bạc, ngồi kiệu đỏ, được người ta nâng qua thiên sơn vạn thủy từ kinh thành đến Tô Châu.

Nhưng cho dù nương hiểu được kì cầm thư họa thì cũng vẫn không phải nam nhân. Sau đó vì gia cảnh sa sút nên nương mới được hứa gả cho phú thương.

Tuy rằng giàu có nhưng cuộc sống vợ chồng của hai người cũng không có màu sắc đẹ đẽ, vợ chồng nói chuyện luôn là ông nói gà bà nói vịt.

Đây là gả lầm rồi.

Thúy di luôn thích bĩu môi kể năm đó nương đã phải chịu bao nhiêu ủy khuất, nói lão gia không hiểu biết quý trọng bà thế nào. Sau đó cha nàng cưới thiếp khiến nương vô cùng thương tâm, cũng chính vì thế bà mới bị bệnh, không đến ba năm thì đã đi trước.

Mấy năm nay nàng đã sớm nghe những lời này đến không còn cảm giác. Nàng tuy là đứa nhỏ do chính thê sinh ra nhưng không được sủng ái.

Sau khi nương qua đời thì thiếp thất kia được phù chính. Từ khi nàng còn nhỏ, nàng và Thúy di đã sớm không được ở Ôn gia đại trạch mà phải ở tiểu biệt viện bên ngoài thành.

Tiểu thiếp kia nhìn thấy nàng thì cảm thấy chướng mắt, ngay cả gặp cũng không muốn gặp vì vậy tìm đủ loại lý do để thuyết phục cha nàng để nàng và Thúy Di đi ra tiểu viện ở.

Một năm kia nàng mới ba tuổi, chẳng biết gì hết, cũng không cảm thấy gì. Nàng không lo ăn, không lo mặc, có phòng ở đã là tốt rồi.

Sau nàng hiểu biết hơn thì đều thấy người ta cười nàng vì không chịu bó chân, bàn chân giống những cô gái nhà nghèo. Hơn thế nữa nữ nhân kia cũng không vì việc hôn sự của nàng mà để tâm mai mối gì. Mà đám người làm cũng luôn ở sau lưng nàng chỉ trỏ, coi thường.

Nàng là đứa nhỏ do chính thê sinh ra, nhưng lại không được sủng. Nương không được sủng mà nàng lại giống nương, không thích cười, tính cách không thích nịnh nọt nên tất nhiên cũng không được sủng.

Hàng năm, dịp duy nhất nàng có thể nhìn thấy cha mình chính là vào bữa cơm tất niên mừng năm mới. Nhưng rồi cũng chỉ có thế.

Ông ta không thích nàng, mà nữ nhân kia càng không có cơ hội để nàng được sủng ái. Bà ta thường không để nàng nói được câu gì, ngay cả vấn an cũng không khiến.

Nữ nhân kia sinh được bốn đứa con, ba nữ một nam, mà nam hài kia là đứa nhỏ mập mạp, gặp người liền thích cười vui hớn hở, vẻ mặt đáng yêu lại thông minh khiến cho cha nàng vui đến chết được, làm sao còn nhìn tới đứa con gái do vợ trước để lại. Cho dù ông ta có ngẫu nhiên nghĩ đến thì cũng bị mẹ kế của nàng đem đứa con bảo bối của hai bọn họ làm cớ khiến ông ta nháy mắt đã quên mất sự tồn tại của nàng.

Thúy di không được tiến vào trong phòng, chỉ có thể ở bên ngoài nhìn lén qua cửa sổ, lúc trưở về luôn ấm ức lải nhải vài câu.

Lúc đầu, nàng nghe còn thấy buồn bã nhưng sau đó nàng dần dần cũng quen. Cha nàng không quan tâm đến nàng, nếu có quan tâm thì đã không để sự tình đến mức này. Vì thế nàng đi tranh giành để làm gì?

Nàng chỉ muốn sớm đi ra ngoài, rời khỏi đó.

Lúc nàng 15 tuổi, mới cập kê, nàng từng mong muốn như thế, nghĩ rằng có thể lập gia đình và rời đi. Sau đó nàng phát hiện nữ nhân kia ngăn cản, rõ ràng không muốn gả nàng ra ngoài.

Một đôi chân thiên túc của nàng (chân không bó), nhà mẹ đẻ lại không phải không có tiền. Điều này cho mọi người thấy rõ nàng không được nhà mẹ đẻ yêu quý, cho dù đến nhà chồng cũng sẽ không được sủng ái. Lúc nương gả đến đây đồ cưới cũng không nhiều lắm, chỉ có mấy hòm sách, Lúc Thúy di mang theo nàng đến tiểu biệt viện thì cũng mang chúng theo.

Nàng là do Thúy di nuôi lớn, Thúy di dạy nàng viết chữ, thêu thùa. Bà thi thoảng thích lải nhải nhiều lời nhưng mọi việc đều làm đến rất tốt.

Khi đó nàng nghĩ ở trong biệt viện ngoài thành này cũng không có gì là không tốt.

Nhưng trước đó vài ngày Thúy di bị bệnh. Lúc nàng đến đại trạch muốn nói với Nhị nương để bà ta mời thầy thuốc đến xem bệnh cho Thúy di thì mới phát hiện nữ nhân kia ngoan độc tàn nhẫn thế nào.

“Bị bệnh? Thỉnh thầy thuốc hả? Đinh Thúy cũng đâu phải người Ôn gia chúng ta. Năm đó nương ngươi cũng hiểu được, Đinh Thúy không phải nha đầu hồi môn mà là tỷ muội của bà ta, chúng ta nuôi không nhiều năm như thế, ăn mặc ở, mọi chi phí đều không thiếu bà ta, vậy còn muốn gì nữa?”

“Cô nãi nãi của ta ơi, nhà chúng ta chỉ là một hộ làm ăn nho nhỏ, có cả trăm miệng ăn, lão gia kiếm tiền cũng vất vả, không phải để cho tiểu thư ngài tiêu xài hoang phí đâu.”

Nàng nhớ rõ mình đứng trong căn phòng rộng lớn đó, nhìn nữ nhân kia mặc váy lụa dệt tơ vàng, đôi chân nho nhỏ đi giày thêu nhiều màu, ngồi trên ghế bành, trên mặt bôi son phấn thượng hạng, trên tay là móng tay thật dài, dùng đôi mắt đen trắng rõ ràng mà nhìn nàng. Bà ta vừa nhấp đôi môi tô son uống trà nóng, vừa lạnh lùng phun ra một câu: “Không phải cảm lạnh sao? Ngủ mấy ngày là khỏi rồi, cần gì phải mời thầy thuốc.”

Nàng không nói gì mà chỉ đứng đó, cảm thấy trái tim băng giá.

Nhìn thấy nữ nhân trước mắt lạnh mặt, nàng lúc này mới hiểu được nữ nhân kia không chỉ chán ghét nương mà còn chán ghét nàng và Thúy di.

Nàng không nói gì nữa, chỉ xoay người đi ra khỏi đống đại trạch đó. Nàng về nhà, hết sức chiếu cố cho Thúy di nhưng tình huống của bà càng ngày càng kém, thượng thổ hạ tả, đến đêm qua thì bà đã mệt mỏi đến độ không nói nổi một câu.

Thấy thế, nàng cầm một bộ xiêm y cũ, suốt đêm sửa sang nó thành nam trang, lấy ra chuỗi ngọc châu mà nương nàng để lại, chờ trời sáng liền thay quần áo, quyết định đem chuỗi ngọc này đến tiệm cầm đồ đổi tiền.

Chuỗi ngọc châu này tuy là bảo bối của mẹ nàng nhưng với nàng nó cũng quan trọng. Có điều Thúy di còn quan trọng hơn.

Thành Tô Châu không nhỏ, người qua lại rất nhiều, nhưng tiểu thư khuê các như nàng hầu như không ra ngoài cửa, không lộ mặt ra ngoài, hơn nữa nàng con mặc nam trang, búi tóc lên đỉnh đầu, lại có một đôi bàn chân to, đi giày vải của nam nhân nên nàng chắc chắn sẽ không có ai nhận ra mình.

Đêm qua nàng nghĩ đủ mọi cách để có tiền, với chuỗi ngọc châu này nàng có thể mời thầy thuốc cho Thúy di, mà quan trọng hơn nàng cần khoản tiền này để làm việc khác.

Đại trạch có cấp tiền tiêu vặt hàng tháng cho bọn họ, nhưng chút ngân lượng đó không nhiều lắm, chỉ vừa đủ để duy trì. Nữ nhân kia chưa từng cho bọn họ có dưa dả chút nào, mấy năm nay tiền tiêu vặt đại trạch cấp mỗi năm còn giảm đi nữa kìa. Nếu còn tiếp tục như thế thì một khi cha nàng có vạn nhất, mẹ kế của nàng chắc chắn sẽ cắt đứt trợ cấp luôn.

Thúy di là theo nương nàng từ nhà mẹ đẻ ở phương bắc đến, trừ bỏ thêu thùa, bà còn biết thi thư, từ nhỏ đã dạy nàng viết chữ. Thúy di đã cố hết sức để nuôi nấng nàng như một vị tiểu thư. Trong tiểu viện ngoài thành này, ban đầu còn có vài nha hoàn hỗ trợ, nhưng thời gian đi qua, đám nha hoàn này cũng bị kéo đi hết. Hiện tại trừ bỏ Thúy di và nàng thì cũng chỉ còn Khâu thúc trông cửa và phụ trách vẩy nước quét nhà.

Khâu thúc già thì già nhưng lại là người tốt. Ông thấy nàng không được cha thương thì cảm thấy rất thương tiếc, thường sẽ kể cho nàng nghe chút chuyện ông nhìn thấy vào lúc xưa khi cùng lão gia đi ra ngoài báo dạo.

Lão gia trong miệng Khâu thúc không phải cha nàng mà là ông nội nàng. Lão gia tử dựng nghiệp bằng hai bàn tay trắng rồi trở thành thương nhân lớn. Một đường này gập ghềnh dan nan, cũng từng qua ải trảm tướng. Từ nhỏ nàng đã nghe Khâu thúc nói đến những chuyện thú vị khi buôn bán. Lúc đó nàng vốn chỉ nghe để đấy, nàng là cô nương gia, ở thời đại nữ nhân không được ra khỏi cửa lớn này thì làm gì có khả năng nàng có thể ra ngoài làm buôn bán chứ.

Nhưng nghe lâu rồi nàng cũng vẫn để ở trong lòng.

Khâu thúc rất già rồi, không làm được việc gì mấy, cha nàng và mẹ kế nhìn ông thấy chướng mắt nên mới để ông ở biệt viện này.

Sau đó lại có thêm một tiểu đường muội Vân Hương, mắt nàng có tật, nhưng là họ hàng xa của cha nàng tới cậy nhờ. Cha mẹ nàng chết hết, nàng mới tới đây tìm chỗ nương thân. Dù là họ hàng xa lắc nhưng vẫn là thân thích, mẹ kế nàng sợ người ngoài chỉ trỏ nên cũng không dám đuổi đi … Nhưng bà ta cũng không muốn giữ nàng ấy lại vì thế cũng thuận tiện ném người sang bên này.

Sau đó có thêm một gã xa phu chân có tật tên Lục Nghĩa, mang theo một con lừa và một cái xe lừa được nữa nhân kia ném qua bên này. Lục Nghĩa vô cùng trầm mặc, tuy hắn sẽ làm việc nhưng hỏi hắn cái gì hắn cũng không nói.

Nói dễ nghe thì đó là mẹ kế thưởng cho nàng một chiếc xe, nhưng nói trắng ra là bà ta ngại hắn chướng mắt, lại không làm được việc nặng, bộ dáng xấu xí nhục nhã lại không ưa nói chuyện nên mới vứt cho nàng.

Tuy thêm mấy miệng ăn nhưng nữ nhân kia cũng không cấp thêm tiền tiêu vặt hàng tháng khiến cho mọi người trong viện này sắp không qua được nữa rồi. Nàng biết cho tới nay đều là Thúy di làm công việc thêu thùa rồi đưa chon ha hoàn trộm bán ra ngoài mới khiến bọn họ có thể chống đỡ qua ngày.

Việc này, nàng đã sớm biết, Thúy di mặc dù gạt nàng nhưng nàng ăn, dùng, mặc cái gì chỉ cần nhìn qua sẽ biết. Nàng ngẫu nhiên đi đại trạch sẽ thấy người hầu ở đó ăn mặc so với nàng còn tốt hơn, lại thấy ánh mắt khinh thường của bọn họ thì cũng biết mình bị người ta coi chẳng ra gì.

Ôn gia đích tiểu thư cũng không phải chỉ có một mình nàng.

Cho nên trước kia, có lần nàng thừa dịp liền để Khâu thúc đi ra ngoài mua một đôi hài cùng mũ quả dưa của nam hài về cho mình. Có điều ban đầu nàng vẫn có chút do dự, hiện tại thế đạo này, cô nương gia xuất đầu lộ diện ra bên ngoài cũng không được người ta hoan nghênh.

Nhưng qua vài lần hội chùa nàng cũng đã gặp vài nữ nhân đến đó làm buôn bán, nuôi sống người trong nhà. Mặc dù sau lưng những nữ nhân này luôn bị người ta chỉ trỏ này nọ nhưng nàng biết đó mới là cách duy nhất giải quyết sinh kế cho tiểu biệt viện.

Nàng không thể cũng sẽ không bó tay sầu lo ở trong cái tiểu biệt viện này. Nàng từng có ý để Lục Nghĩa thay nàng làm chân chạy nhưng Lục Nghĩa không chỉ thọt chân mà hắn còn trầm mặc đến mức nàng nghĩ rằng hắn bị câm điếc, thực sự không phải người thích hợp buôn bán.

Lần này Thúy di bị bệnh đã khiến nàng hạ quyết tâm. Nàng muốn dùng ngân lượng đổi được này để làm một ít việc mua bán ——

Lúc này tiệm cầm đồ đối diện đã có động tĩnh, nàng hoàn hồn lại, thấy cửa hàng đã mở cửa.

Tâm nàng căng thẳng, cố thở sâu lấy dũng khí vén rèm cửa đi vào trong cửa hàng, đưa chuỗi ngọc kia ra, đè thấp giọng mà trao đổi. Nàng muốn nhanh chóng đổi tiền để thỉnh thầy thuốc cho Thúy di.

Lão bản đứng sau quầy nhìn nàng vài lần, nói rằng chuỗi ngọc này thực đúng là có giá trị. Thúy di cũng luôn nói với nàng rằng chuỗi ngọc này đủ để người ta mua nhà ở khi thành tây phồn hoa nhất. Nhưng nàng cũng không cùng lão ban tranh chấp nhiều, đã là người đi cầm đồ thì rõ là thiếu tiền, mà người làm cầm đồ đương nhiên sẽ muốn ép giá để kiếm lợi.

Cầm biên lai cầm đồ cùng ngân lượng nhét kỹ vào trong túi xong nàng vội vàng xoay người rời đi, đến y quán tìm đại phu. Ai ngờ mới ra khỏi cửa tiệm cầm đồ, nàng bước nhanh vào một cái ngõ nhỏ, muốn tránh người khác chú ý nhưng lại có một bóng đen từ phía sau đánh tới.

Nàng bị đánh ngã trên mặt đất, ngay lập tức phát hiện ra đối phương có ý đồ cướp cái túi tiền nàng đang gắt gao cầm trong tay. Bởi vì bị giật mình nên nàng cũng quên không kêu to, chỉ sống chết cầm lấy cái túi, nhất định không chịu buông ra.

Trong lúc hỗn loạn nàng bị đánh một quyền, cảm giác được cái mũ quả dưa trên đầu bị rơi ra, tóc dài xõa tung. Đối phương vừa giật vừa đánh nhưng nàng vẫn không buông tay. Kẻ trộm kia phát hỏa định nâng chân muốn đạp nàng.

Trong lúc chỉ mành treo chuông không biết ai đó ném một cuốn sách đập trúng vào trán tên kia. Người nọ quát to một tiếng, buông lỏng tay ngã ra đằng sau. Nàng vội vàng cầm lấy túi tiền lùi về phía sau, kinh hoảng nhìn người kia bò lên, vẻ mặt hung ác muốn vọt về phía nàng nhưng trong nháy mắt không biết hắn nhìn thấy cái gì mà sắc mặt xanh trắng lập tức xoay người chạy trối chết.

Nàng cầm lấy túi tiền, ôm chặt trong ngực, xoay người liền nhìn thấy nam nhân đứng ở đầu ngõ.

Nàng nhớ rõ hắn mặc một thân bạch y như vầng trăng, cũng nhớ rõ mái tóc dài của hắn được búi cẩn thận trên đầu, chân đi một đôi giày đen, trên lưng là một cái thắt lưng màu đen.

Nam nhân kia bộ dáng nhã nhặn, vẻ mặt trắng nõn.

Một năm kia trong thành còn chưa có ai chú ý đến sự tồn tại của hắn.

Khi đó nàng không hề biết hắn là ai.

Mà khi hắn đi về phía nàng thì nàng vẫn còn kinh hoảng vì chuyện vừa mới xảy ra nên lùi về sau mấy bước.

Kỵ sĩ của ma nữ – Chương 22

Hắn nhìn chằm chằm nàng, con ngươi sáng ngời. Nàng xấu hổ lúng túng nhắm hai mắt, trốn tránh cái nhìn lửa nóng chăm chú của hắn nhưng vẫn không thể khống chế há mồm rên rỉ thở gấp. Hơi thở, mùi hương của hắn, còn có cơ thể ấm nóng đều vây quanh nàng. Sau đó hắn lại hôn nàng, cùng nàng môi lưỡi giao triền, làm nàng không tự chủ được vội túm chặt lấy cánh tay cường tráng của hắn. Ngón tay thô ráp của hắn cùng lúc đó dò xét tiến vào. Nàng thở hào hển muốn lùi bước, nhưng hắn ôn nhu vỗ về, khiêu khích, dụ dỗ, thăm dò qua lại ra vào, mang đến khoái cảm xa lạ mà đáng sợ khiến cho thân thể của nàng bỗng nhiên bắt đầu run rẩy, co rút nhanh.

Tiếng đập cửa đúng lúc này lại vang lên.

Khải cứng đờ cả người, cảm giác được hắn nháy mắt cũng cứng đờ lại.

Nàng lúc đó tỉnh táo lại, nhưng không cách nào khống chế phản ứng của thân thể, phát ra tiếng rên rỉ, cảm giác chính mình không khống chế được vẫn gắt gao bao vây lấy ngón tay hắn.

Người ngoài cửa vẫn tiếp tục gõ.

Khải xấu hổ đến vẻ mặt đỏ bừng, không biết làm thế nào cho phải thì nghe hắn ở bên tai mắng một tiếng. Có điều bọn họ đều biết nếu không phải chuyện trọng yếu thì đám người hầu sẽ không quấy rầy hắn vào lúc này.

Gân xanh trên trán hắn nổi lên, hắn đem mặt chôn ở trên vai nàng thở dốc, qua một hồi lâu, mới chậm rãi rút ngón tay từ trong cơ thể nàng ra, thấp giọng gào lên. “Ta đến đây! Đừng gõ nữa!”

Hắn thối lui về sau mới làm váy trên đùi nàng hạ xuống. Nàng đứng không vững, chỉ có thể mặt đỏ tai hồng tựa vào trên giá sách, tay nhanh chóng kéo áo khoác bị hắn kéo xuống về chỗ cũ, miễn cưỡng che khuất áo lót bị cởi một nửa cùng với hai bầu ngực trần.

Hắn xoay người đi đến cửa, mạnh tay kéo mở.

“Chuyện gì?”

Sophia khẩn trương nói: “Đại, đại nhân, ách, thật có lỗi khi quấy rầy ngài nhưng ngoài cửa thành có một hài tử cõng một vị phụ nhân, nói là muốn tìm Khải phu nhân.”

Hắn ngẩn ra, “Vì cái gì?”

“Ta đoán,” Sophia nhìn hắn, cố lấy dũng khí nói: “Hắn nghe nói phu nhân trị được ôn dịch, muốn mời phu nhân giúp mẫu thân hắn.”

Hắn ngậm miệng trừng mắt nhìn nữ phó kia.

Bởi vì biểu cảm của hắn quá mức hung ác, Sophia lui một bước, nhưng nhớ tới hai người còn đứng trong mưa kia, đứa nhỏ đã phải cõng mẹ đi rất xa thì lại dũng cảm mở miệng nói.

“Đại, đại nhân, an, Anthony muốn ta tới hỏi, chúng ta có thể để đứa nhỏ cùng mẫu thân hắn vào cửa không?”

Đáng chết, hắn sớm nên nghĩ đến, chuyện nàng chữa khỏi ôn dịch sớm muộn gì cũng sẽ truyền ra, sự tình sớm hay muộn cũng sẽ phát triển trở thành như vậy. Cũng không biết vì sao, trước đây hắn lại chưa từng nghĩ tới chuyện này.

Hắn nhíu mày, mím môi, chỉ cảm thấy đau đầu.

Đang lúc hắn còn đang chần chờ thì nữ nhân kia đã mở miệng nói.

“Đừng hoang mang, đương nhiên là có thể.”

Hắn ngẩn ra, nghiêng người quay đầu nhìn nàng.

Trên mặt nàng vẫn mang theo đỏ ửng, nhưng y phục trên người đã sửa sang lại tốt, hoàn toàn nhìn không ra mới vừa rồi hỗn độn thế nào. Nàng không có nhìn hắn, chỉ vội vàng tiến lên, nhìn nữ phó ngoài cửa.

“Mau gọi Anthony để đứa nhỏ kia và mẹ hắn vào thành, dẫn bọn hắn đến tháp cửa thành. Ta đi đến bếp nấu nước rồi sẽ qua đó ngay.”

Sophia nghe vậy, nhẹ nhàng thở ra, vội vàng xoay người chạy vội xuống lầu.

Tiếp theo đó nàng đi qua bên người hắn, bộ dáng muốn xuống lầu.

Hắn vươn tay tóm được tay nàng, thô thanh hỏi: “Ta đã nói ta mới là thành chủ.”

Cả người nàng run lên, nhưng vẫn ngẩng đầu nhìn hắn, dùng giọng nói khàn khàn chậm rãi trả lời.

“Cho nên ngươi sẽ để bọn họ chết ở bên ngoài sao?”

Hắn sẽ không, mà nữ nhân này biết hắn sẽ không.

Hắn cứng người, hàm dưới buộc chặt.

“Ngươi có biết ngươi đang làm cái gì không?”

“Ta làm chuyện lúc trước ngươi muốn ta làm.” Nàng nhìn chằm chằm hắn, nói: “Thu nhận người bệnh, phòng ngừa ôn dịch tiếp tục khuếch tán, bên ngoài ít đi một người bệnh thì cũng ít đi một nguồn truyền bệnh.”

Nàng nói đúng, nàng luôn đúng.

Hơn nữa mặc dù hạ thân hắn vẫn cứng rắn đến phát đau, ngay cả đôi môi ướt át của nàng cũng vẫn lưu lại dấu vết hắn chà đạp nhưng hắn lại thấy trong mắt nàng có sự tỉnh táo.

Cho nên, hắn buông lỏng cánh tay của nàng.

Nàng xoay người xuống lầu, hắn nhìn bóng lưng thẳng tắp của nàng, tay nắm chặt then cửa.

Nửa ngày sau hắn mới xoay người trở về phòng. Có lẽ hắn cần phải đi xem xét hai mẹ con nhà kia nhưng hắn hoài nghi nàng muốn nhìn thấy hắn ở đó.

Cho nên hắn đứng ở bên cửa sổ, nhìn nàng đi đến trước bãi tắm rồi tới cầu thang lên tháp cửa thành.

Mọi người ở dưới lầu cùng tháp cửa thành đi lại, tuân theo chỉ thị và mệnh lệnh của nàng.

Mỗi một lần, nàng xuất hiện tại cửa sổ của căn phòng thì trong tay đều cầm một thứ khác nhau, khăn, nước ấm, dầu vừng, cồn thuốc, trà dược thảo.

Cuối cùng nàng như nhớ ra sự tồn tại của hắn, nên ngẩng đầu nhìn từ cửa sổ tháp cửa thành sang bên này. Lúc nàng nhìn hắn thì cũng đúng lúc hắn đang nhìn nàng.

Nàng đứng ở nơi đó, thở ra khói trắng, từ khoảng cách thật xa nhìn hắn.

Hắn biết rõ vừa rồi hai người không nên làm thế. Nữ nhân kia chỉ làm chuyện nàng nên làm, chuyện hắn muốn nàng làm. Hơn nữa hắn cũng không muốn tạo thêm nhiều phiền toái. Cùng nàng lên giường sẽ chỉ làm sự tình trở nên càng thêm phức tạp, hắn chắc là bị mụ mị rồi mới có thể làm ra chuyện đó.

Tuy rằng như thế nhưng hắn vẫn không có cách nào quên được phản ứng mê người của nàng. Hắn vẫn cảm giác được ngón tay bị nàng siết chặt, nhớ tiếng thở gấp rên rỉ bên tai, nhớ nàng ở trong lòng hắn co rúm lại sợ run.

Cho nên, hắn nhìn nàng, cởi áo lông dê ở trên người.

Hắn thấy nàng ngừng thở.

Hắn cũng thế.

Đáng chết hắn cũng không làm sao thở được.

Đầu vú hắn đứng thẳng, hạ thân dưới khố cũng cứng rắn, bởi vì không được thỏa mãn mà đứng thẳng, đội quần lót lên thật cao.

Hắn hi vọng cởi áo ra có thể khiến dục vọng bị áp chế một chút nhưng lúc thấy nàng nín thở  thì cái khát vọng kia lại càng sâu ——

Khải không thể tin được, nam nhân kia lại ở trong gió lạnh như thế mà cởi áo.

Nàng nhìn hắn, hoàn toàn không thể di chuyển di tầm mắt, không có cách nào hô hấp, chỉ cảm thấy một nguồn nhiệt lủi qua toàn thân, khiến bụng nàng co rút nhanh, đầu nhũ ẩm ướt trước ngực lại đứng thẳng lên, cọ vào vải áo thô ráp.

Trong phút chốc, mọi thứ bên cạnh đều biến mất không thấy, giống như nàng lại về tới phòng hắn, bị hắn ôm trên giá sách mà vuốt ve, hôn môi, cọ xát.

Ở giờ khắc này, toàn bộ thế giới chỉ còn lại hắn, còn có lửa nóng của hắn.

Cả trái tim đều đập kinh hoàng ở trong lồng ngực, bởi vì nàng nín thở nên đầu nàng choáng váng, mắt hoa lên.

Rồi sau đó hắn buông tha nàng, xoay người rời khỏi cửa sổ.

Nhưng cảm giác hắn lưu lại chỉ có tăng chứ không giảm, cũng không biến mất.

Nàng vô pháp nhúc nhích, cũng biết chính mình không có khả năng trở lại gian phòng kia, nhưng lại không thể ngừng suy nghĩ.

Nàng không nên cùng hắn phát triển mối quan hệ, nàng biết kết quả cuối cùng sẽ là gì.

Tuy rằng nàng đã cùng hắn nói ngàn vạn lần, nhưng nàng vẫn rõ ràng hiểu được chân tướng sự thật.

Nàng đang nói dối, luôn luôn nói dối.

Nàng là phù thủy, một phù thủy chân chính.

Mỗi một nam nhân sau khi biết được chân tướng thì đều sẽ sợ hãi lui bước.

Không có người nào muốn ở cùng một phù thủy. Năng lực của nàng làm cho bọn họ sợ hãi, phiền toái nàng mang đến khiến bọn hắn lùi bước. Nàng không phải loại nữ nhân bọn họ muốn đụng chạm vuốt ve, đồng sàng cộng chẩm chứ đừng nói ở bên nhau cả đời.

Bọn họ muốn sử dụng năng lực của nàng nhưng lại không yêu thương nàng, không thích nàng, không nguyện ý tiếp cận nàng.

Cho nên nàng mới rời khỏi Venice, đối với những người đó nàng chỉ là một công cụ để lợi dụng, nàng không muốn ôm ấp kỳ vọng, không muốn bị biến thành một quái vật.

Nàng không bao giờ muốn như thế nữa.

Nàng chịu đựng đủ những lợi dụng, khinh bỉ, sợ hãi, trách tội cùng oán hận, cho nên nàng mới rời xa đám người đó, trở lại trong rừng rậm sống một mình.

Nàng không từng nghĩ tới có một ngày nàng lại bị nam nhân hấp dẫn, bị người ta khát vọng, cần đến.

Mà nàng thế nhưng lại cũng khát vọng hắn, muốn được người ôm trong lòng, muốn được người khác cần. Thân thể của nàng bởi vì hắn mà run run, hai vú do khát vọng được hắn âu yếm duyện hôn mà nóng lên trướng đau, nhưng hắn không phải của nàng, sẽ không trở thành của nàng.

Đợi đến khi nàng giúp hắn cùng mọi người trong tòa thành vượt qua cửa ải khó khăn này thì nàng sẽ rời khỏi.

Nhìn cửa sổ trên cao lộ ra đèn đuốc nhưng không có bóng người kia, Khải nhắm mắt lại, áp chế khát vọng trong lòng, bắt buộc chính mình xoay người đi khỏi cửa sổ.

Như vậy là tốt rồi, dù sao hắn cũng là quý tộc, vốn không thể thật sự lựa chọn nàng.

Liền tính hắn muốn nàng thì cũng chỉ là chơi đùa mà thôi, sẽ không nghiêm túc.

Mà đó không phải điều nàng muốn.

Khải trở về bên cạnh bàn tiếp tục điều chế thuốc kiềm chế ho khan cùng bệnh sởi rồi lại kéo khăn lên che khuất miệng và mũi mình. Nàng trở lại bên người nữ nhân kia, nhấc lên vải rèm vừa mới treo lên, Sophia vừa mới giúp bà ta tắm sạch sẽ, bây giờ đang giúp lau khô thân thể.

Nữ nhân đó bị bệnh rất nghiêm trọng, ho vô cùng lợi hại, trên người chẳng những có bệnh sởi, còn có bọc mủ, có chút mủ thậm chí còn bị vỡ. Nàng để Sophia đem quần áo bẩn đi thiêu hủy, còn mình thì ngồi xuống bên giường.

“Xin chào, ta là Khải.” Biết nữ nhân kia đã có chút thần trí không rõ, lại không muốn bà ta phải sợ nên nàng lại giới thiệu bản thân, ôn nhu nói: “Ta hiện tại phải giúp ngươi đem bọc mủ trên người mở ra, đem nó quét sạch sẽ, ngươi có hiểu không?”

Nữ nhân cuộn mình ở trên giường, thống khổ nhìn nàng, trong mắt tràn đầy tơ máu thở phì phò, nửa ngày sau, nàng mới gật gật đầu.

“Nói cho ta,” Khải vươn tay, nắm bàn tay nàng hỏi: “Ngươi tên là gì?”

“Johanna…”

Đó là một cái tên vui vẻ, có nghĩa là thượng đế nhân từ.

“Johanna, sẽ đau chút, nhưng ta là đang giúp ngươi, ngươi hiểu không?”

Johanna gật gật đầu, Khải mới nới tay, cầm lấy dao nhỏ và ngân châm đã nhúng nước sôi ở trên mâm, sau đó vén khăn trên người Johanna, bắt đầu thay nữ nhân đã gầy đến không thành hình người kia xử lý bọc mủ, vừa làm vừa kiểm tra bệnh sởi trên người bà ta.

Nữ nhân kia phát run, chịu đựng đau để nàng làm sạch bọc mủ.

May mắn là những người bệnh trong thành đã hồi phục phần lớn, tuy rằng thể lực vẫn suy yếu, nhưng không cần phải ở lại chỗ này nữa.

Starbucks đã cứu cuộc đời tôi như thế nào – Chương 5

Chương 5: Hãy mở lòng và mỉm cười – Bạn đang ở Broadway đó

“Tôi đã buộc bản thân mình phải càng ngày càng ít đưa ra những ý kiến cố chấp”

THÁNG 7 – THÁNG 8

Tôi tỉnh dậy mà toàn thân toát mồ hôi. Tôi không có điều hòa và căn phòng áp mái của tôi đang chảy ra dưới cái nóng mùa hè. Mới có 3 giờ sáng. Tôi vẫn còn một tiếng nữa trước khi phải thức dậy để đến New York, nhưng tôi thấy quá nóng và lo lắng đến việc lần đầu tiên giúp Crystal mở cửa hàng nên tôi không ngủ tiếp được.

Tôi có thể cảm thấy trái tim mình đang đập và điều đó khiến tôi sợ. Ý nghĩ cùng Crystal mở cửa hàng khiến tôi lo lắng. Tôi bắt bản thân bình tĩnh nhưng một đoạn đối thoại mà tôi đã nghe được lại khiến tôi lo ngại. Những Cộng sự khác đã nói, “Mở cửa hàng thật là việc kinh khủng,” và những nhận xét tương tự như thế khiến tôi cảm thấy việc này có thể vượt quá những gì tôi có thể giải quyết.

Tôi cố gắng nhắc bản thân rằng trong công việc trước đây tôi đã yêu thích các thử thách như thế nào. Tôi thích theo đuổi những vụ làm ăn mới hay gặp những “khách hàng” khó tính. Nhưng mở cửa một cửa hàng lại là một thử thách về thể chất. Mà tôi thì chưa bao giờ tự tin về mặt thể chất cả.

Đột nhiên, tôi nhớ đến một kỷ niệm buồn về một thử thách thể chất mà tôi lý ra nên tránh. Nhưng bài kiểm tra thể chất chết tiệt lại đến vào lúc tôi còn ở thời niên thiếu và không có nhiều thứ để đưa ra nhằm từ chối thử thách.

Đổ mồ hôi trong cái nóng mùa hè, tôi nhớ lại khoảng thời gian kinh khủng ở Tây Ban Nha vào năm 1959. Khi đó tôi 19 tuổi và chọn đi du lịch hè một mình quanh Châu Âu. Tôi dường như vẫn có thể cảm nhận được sàn đất cứng rắn của khu cắm trại ở ngoại ô Pamplona bị nướng lên dưới ánh mặt trời chói chang.

Giống như những người đàn ông trẻ tuổi thời đó, tôi cũng tới Tây Ban Nha để tìm Papa và tôi đã tìm thấy ông. Vào mùa hè đó, Ernest Hemingway ngồi ở giữa quảng trường đầy nắng tại Pamplona và được vây quanh bởi một vòng những người hâm mộ đến từ khắp nơi trên thế giới. Ông ấy có một khuôn mặt đẹp và bờ vai rộng với mái tóc trắng được chải cẩn thận che đi một vết sẹo mà tôi không bao giờ nên nhắc tới.

Tôi bước lên.

“Michael Gill,” tôi nói, bắt lấy bàn tay ông ấy giơ ra. Cái bắt tay của ông ấy rất chặt đến gần như nghiến lại. Đôi mắt ông ấy thăm dò tôi. Ông ấy không bảo tôi ngồi xuống và tham gia vào đám đông đó.

“Janet Flanner gửi lời chào đến ông,” tôi nói với ông ấy. Janet Flanner là đồng nghiệp của bố tôi tại tờ Người New York nhưng làm việc tại trụ sở ở Paris và là một người bạn nhậu lâu năm của Hemingway. Tôi đã gặp bà một vài tuần trước. Khi bà biết tôi là một người hâm mộ của Hemingway, bà đã bảo tôi có thể sử dụng tên của bà. Bà còn nhắc là tôi nên hỏi về vết sẹo chạy dọc phần trán của ông ấy. Người ta đồn là ông ấy bị trúng một mảnh đạn trong Chiến tranh thế giới hoặc bị húc bởi một con tê giác ở Châu Phi. Tất cả những gì Janet Flanner nói với tôi là, “Có một câu chuyện thú vị đằng sau vết sẹo đó … nếu Ernest chịu nói về nó.”

Khi nói đến Janet, Ernest Heminghway nhìn tôi một cách thích thú.

“Bà ấy là một người bạn của cha tôi,” tôi giải thích. “Brendan Gill.”

“À tôi có biết ông ấy,” Hemingway nói chậm rãi như thể đang đo đếm từng con chữ.

“Và Janet là một người bạn cũ của tôi,” ông ấy nói, với một giọng tự tin và sang sảng. Ông hướng tới đám đông những người hâm mộ và nói bằng một giọng cao vút, “Hay có thể nói Janet là một người bạn rất thân của tôi. Cô ấy là một trong những ký giả tuyệt vời nhất của thế hệ chúng tôi.”

Tôi để ý thấy ông ấy không dùng từ “nhà văn”. Như vậy là ông ấy không cạnh tranh với Janet Flanner. Bà ấy là một “ký giả” chứ không phải một “nhà văn”. Từ đó giải thích lý do vì sao họ vẫn có thể là bạn. Đằng sau lời giới thiệu của ông ấy ẩn dấu hiệu của sự hiếu thắng.

“Miguel là con trai một người bạn khác của tôi,” Hemingway nói với đám đông và rất nhanh đã đặt cho tôi một biệt danh. “Brendan Gill là một người bạn của Janet Flanner tại tạp chí Người New York.”

Một vài người gật đầu tỏ vẻ đã biết. Họ đã nghe về tên của cha tôi.

Bây giờ, sau 45 năm, tôi nghĩ lại khi lăn lộn trên chiếc giường nóng nực, đợi ca làm tại Starbucks, là tôi đã đến gặp Hemingway để nhận được sự công nhận. Tôi đã chỉ sử dụng những công cụ mà tôi biết dùng như thế nào: bố tôi và những mối quan hệ của ông ấy. Và dù những mối quan hệ này giúp tôi mở cánh cửa thì chúng cũng không giúp tôi đi vào. Vào khoảng khắc đó tại Pamplona, tôi chỉ có một mình và cũng chỉ có tôi có thể chứng minh bản thân. Và tôi ghét điều đó.

Tôi nhìn vào mắt Hemingway và nhớ lại những lời Janet Flanner nói. “Làm sao mà ông lại có vết sẹo đó?” tôi hỏi điều này như một sự trả đũa vì tôi cảm thấy đề tài và câu hỏi về vết sẹo sẽ khiến ông ấy khó chịu. Đôi mắt của Hemingway trở nên dại ra khi tôi hỏi câu hỏi đó – ít nhất trong một khoảng khắc. Đây là một người đàn ông đã quen với việc tham gia những cuộc chiến dù bằng chân tay hay bằng lời nói.

Rồi ông ấy lờ câu hỏi của tôi đi và chỉ hỏi đơn giản, “Cậu đã từng chạy trước lũ bò bao giờ chưa?”

“Chưa từng,” tôi đáp và rồi ngu ngốc tiếp lời, “vẫn chưa.” Tôi thậm chí chẳng thèm nghĩ trước là mình đang dấn thân vào một viễn cảnh ngu ngốc.

“Ồ,” Hemingway nói chậm rãi, như đang đo đếm sức mạnh lời nói của mình, “vậy thì cậu hãy chạy đằng trước những con bò một lần, Miguel, và trở lại đây chúng ta sẽ nói chuyện.”

Ông ấy coi tôi như một cậu bé thay vì một người đàn ông.

Tôi ở lại đó uống rượu cả đêm, và luôn lâng lâng trong sự hưng phấn của không khí lễ hội nơi đó. Vào sáng hôm sau, tôi đã quyết định là mình phải chạy đằng trước những con bò một lần. Chuồng bò được mở cửa lúc 7 giờ mỗi sáng và chỉ những kẻ ngốc nghếch mới tham gia một cuộc chạy đua trên con đường rải đá cuội dài cả dặm hướng tới trường đấu với đàn bò đuổi phía sau cả quãng đường. Tôi sợ tất cả những điều đó.

Trời vừa mới hửng sáng khi tôi có mặt ở khu chuồng nhốt những con bò cho trận đấu trong ngày. Tôi có thể nghe thấy những con bò di chuyển quanh, thỉnh thoảng lại va vào những tấm ván đang bao lấy chúng. Tôi trèo lên một bên của cái chuồng để nhìn chúng. Tất cả những con bò đều to lớn, màu đen và trông đặc biệt xấu tính.

Rất nhanh, một nhóm đông toàn những chàng trai trẻ tuổi tụ tập lại để chuẩn bị cho cuộc chạy đua.

Một người đàn ông lớn tuổi đứng bên cạnh tôi. Tôi gật đầu với ông. Giống những người Tây Ban Nha khác ở Pamplona, ông ấy biết tôi là một người lạ ở đây. Mặc dù tiếng Tây Ban Nha của tôi rất tệ còn tiếng Anh của ông ấy cũng chẳng khá khẩm gì nhưng tôi vẫn hiểu rằng ông ấy giục tôi đứng xa hơn về phía trước.

Một đám thanh niên đang hò reo gần cái chuồng. Họ trông có vẻ rất hứng khởi với thử thách này và hơi say.

Người đàn ông lớn tuổi lại ra hiệu một lần nữa – một cách rất nhiệt tình – rằng tôi nên đợi bọn bò xa hơn lên phía trên ngọn đồi.

Tôi nhìn lên ngọn đồi.

Con phố đó khá hẹp và được chắn bởi hàng rào gỗ lớn. Tôi quyết định nghe theo lời khuyên của ông ấy. Người đàn ông đó đã cho tôi một cái lý do để thoát việc này. Bởi vì dù Hemingway đã thách thức tôi chạy đằng trước lũ bò nhưng cũng không chỉ rõ tôi phải bắt đầu chạy từ đâu.

Tôi đi bộ vài trăm mét lên đỉnh đồi và dựa vào thanh chắn để nghỉ một lúc. Rồi tôi ngồi xuống. Tôi đột nhiên cảm thấy rất mệt. Nhiều ngay nay tôi không ngủ đủ. Khi tia nắng đầu tiên chiếu lên người, tôi chỉ thấy choáng váng.

Sự hỗn loạn phía sau rào chắn khiến tôi tỉnh táo lại. Đám đông đã tụ tập sau rào chắn để chờ đợi việc thả bò sắp diễn ra. Tôi lúc đó chẳng có nhiều thời gian. Tôi cảm nhận được một sự thôi thúc nhảy qua hàng rào, gia nhập đám đông quan sát để được an toàn. Hemingway sẽ chẳng bao giờ biết được. Tôi thấy oán giận ông ta vì đã để tôi liều mạng tham gia một cuộc phiêu lưu ngu ngốc thế này.

Một nhóm người hò hét đã bắt đầu chạy về phía tôi. Tôi thì chẳng có chỗ nào để trốn. Vì vậy cuối cùng tôi gia nhập nhóm những người chạy đầu tiên.

Rồi đột nhiên có một tiếng hét và mọi người bắt đầu chạy nhanh hơn tôi tưởng tượng rất nhiều.

Tôi cố gắng bắt kịp những người chạy đầu nhưng dần dần bị tụt xuống hàng giữa.

Khi tôi rẽ ở một góc, tôi đã vấp phải một một viên sỏi gồ lên và va vào rào chắn. Một vài người đã giúp tôi đứng dậy. Lưng tôi lúc đó như gãy ra và tay tôi thì bị trầy xước khi cố đứng lên.

Có những bàn tay vỗ lên lưng tôi và đẩy tôi trở lại đám đông chạy đua. Tôi khi đó phải chạy trối chết. Bằng cách nào đó mà tôi đã cảm nhận được một luồng gió mới, trong lành không chút tạp chất và nỗi sợ hãi.

Tôi sợ là tôi sẽ chết ở con phố nhỏ hẹp đó, bị húc bởi một con bò chẳng có tí hứng thú nào với tôi mà chỉ quan tâm làm sao chọc được sừng vào cái áo của tôi và xung quanh là những người xa lạ. Tất cả là vì Papa.

Tôi thấy mình vượt lên nhóm đầu, nhấc chân thật cao và tảng lờ sự đau đớn cho đến khi mọi di chuyển của tôi đều dựa vào adrenaline. Tôi thấy mình ở nhóm dẫn đầu với hai hoặc ba người nữa. Ở phía trước tôi có thể nhìn thấy đấu trường và điều đó cho tôi thêm năng lượng. Tôi chẳng quan tâm đến điều gì trừ việc đến được đó.

Tôi cố gắng tăng tốc lần cuối và ngay khi cổng mở tôi vọt qua và chỉ chậm hơn người đứng đầu vài giây.

Một đàn bò đã được dẫn vào đấu trường. Một người đàn ông ngã ngày trước đàn bò. Một vài con tránh được anh ta nhưng vài con dẫm lên người anh ta. Một người khác có một cái áo không tay và chuẩn bị thực hiện vài màn dụ bò chạy qua. Đám đông hô lên hưởng ứng.

Khi đàn bò đã vào hết, tôi luồn ra sau rào chắn và đi ra đúng cái cổng mà bọn bò đã đi vào. Cả con phố đầy mùi phân bò và mùi mồ hôi con người.

Tôi có thể nghe thấy tiếng hò hét và chúc mừng đằng sau mình nhưng tôi không có tâm trạng để chơi. Cả người tôi đầy mồ hôi và vẫn đang run lên vì sợ. Tôi đã không chạy đằng trước lũ bò nhưng tôi nghĩ mình đã làm đủ rồi. Hemingway đã không nói phải chạy xa thế nào … ông ấy chỉ bảo chạy thôi! Tôi tự hợp lý hóa việc này. Tôi đã chạy mà! Rồi tôi tìm thấy một con hẻm còn tối vì không được ánh mặt trời buổi sớm chiếu vào. Tôi nằm xuống và rên rỉ (lưng tôi vẫn còn đau vì va phải rào chắn) rồi ngủ mất. Mặt trời làm tôi tỉnh giấc khi nó chiếu xuống bức tường. Tôi đi lên phía quảng trường chính. Hemingway vẫn chưa có ở quán cà phê vào cái giờ sáng sớm này vì thế tôi ngồi xuống cái bàn tròn lớn của ông ấy và gọi một cốc bia.

Rồi lại gọi một cốc nữa.

Tôi chỉ nhìn vào khoảng không. Trải nghiệm của tôi vẫn chưa kết thúc, tôi biết điều đó. Nó chỉ kết thúc khi tôi kể cho Hemingway. Sau một giờ chiều, Hemingway ra khỏi khách sạn. Mỗi lần nhìn thấy ông ấy tôi đều bị ấn tượng về việc ông ấy vạm vỡ thế nào. Ông ấy bị vây quanh bởi đám đông hâm mộ ở Pamplona. Hemingway có vài đặc điểm của loài cá voi và cá mập. Ông ấy di chuyển mà hầu như không đánh tay hoặc chân – ông ấy chỉ đơn giản lướt về phía trước cùng với đám đông người hâm mộ.

Ông ấy ngồi xuống, giơ cao bàn tay to lớn để gọi đồ và rồi ông ấy nhìn thấy tôi.

“Miguel?” Đó không phải là một lời chào mà là một câu hỏi. Có lẽ ông ấy chẳng nhận ra tôi.

Tôi đứng lên và đi một cách cứng nhắc đến cái bàn của ông ấy (cả người tôi vẫn còn đau nhức).

“Tôi đã chạy đằng trước bọn bò,” tôi đứng trước mặt ông ấy và nói như một đứa trẻ đang kể cho cha nó về một thành tích đáng tự hào.

“Tốt,” Papa nói và gật đầu. “Tốt đấy.”

Ông ấy chỉ vào cái ghế ngay bên cạnh nơi chưa có ai ngồi. Thật đúng là một vinh hạnh cho tôi.

Tôi vui mừng và gần như đổ nhào lên cái ghế.

Hemingway ra hiệu cho người bồi bàn đưa đến cho tôi một cốc bia nữa.

Đám đông ngồi xung quanh chúng tôi đang cố gắng để nghe những gì ông ấy sẽ nói với tôi, tôi đoán vậy. Nhưng ông ấy chỉ đơn giản chạm cốc và uống mừng với tôi.

Rồi ông ấy rướn người về phía trước và nói nhỏ với tôi, “Giờ thì tôi sẽ kể cho cậu nghe về vết sẹo.”

Hemingway xoay cái ghế lại ngồi đối mặt với tôi để những người khác không thể nghe được những gì ông ấy nói với tôi.

“Một vài người sẽ nói với cậu là tôi có vết sẹo này từ cuộc chiến tranh hay ở Châu Phi.”

Papa cố ý nói như thể đang đong đếm từng từ một. Dù ông ấy mới tới quảng trường và chỉ mới uống một cốc đầu tiên, tôi vẫn có cảm giác ông ấy đã uống từ khi còn ở trong phòng khách sạn. Bởi vì ông ấy có cái sự nhấn mạnh đến cố chấp của người say – như thể cả thế giới đều nằm trong sự chính xác của từng con chữ. Nhưng ông ấy vẫn rất nghiêm túc giống tác phong của bản thân và đôi mắt vẫn ánh lên tia sáng rực rỡ.

“Rất nhiều người bịa nhiều chuyện về Papa,” Hemingway nói, như thể đang nói đến một người thứ ba với một nụ cười nhẹ và có chút bẽn lẽn, “nhưng có rất ít người biết sự thật. Và đây là sự thật về vết sẹo, Miguel:

“Lúc đó là ở Paris. Nhóm người chúng tôi đã uống cả ngày. Sau đó chúng tôi lại đến nhà một người nào đó trong đám. Tôi vào phòng tắm và cố giật cái dây xích của cái bồn cầu cổ lỗ sĩ. Thời đó tôi vẫn còn khỏe nên tôi đã giật quá mạnh … tôi nắm cái đòn bẩy đến tận giếng trời và kéo toàn bộ cái đống chết tiệt đó xuống đầu mình. Lúc đó máu chảy nhiều lắm. Một vài người hốt hoảng và bắt tôi phải đi bệnh viện. Chúng tôi đến một bệnh viện của Pháp vào giữa đêm. Họ đã khâu vết thương này lại nhưng làm rất tệ. Thế nên tôi mới có vết sẹo này.”

“Tôi chưa bao giờ kể cho ai về câu truyện đó, vì vậy người ta tự bịa chuyện. Như là tôi bị thương trong chiến tranh hay là bị một con báo hay sư tử Châu Phi chụp vuốt vào mặt khi tôi đang có ý định kết liễu nó. Nhưng cậu đã nghe cậu truyện thật, Miguel. Giờ thì cùng uống thêm mấy ly nữa với những người bạn của chúng ta nào.”

Ông ấy quay lại với đám đông và ra hiệu bằng cánh tay to lớn để tiếp tục một chầu nữa.

Giờ đây, trong căn phòng áp mái nhỏ bé, tôi vừa nghĩ đến cậu truyện của Hemingway về cái nhà vệ sinh và vết sẹo, vừa rời giường và nhảy lò cò trên hai bàn chân đau nhức để đến nhà tắm. Tôi tức giận khi nghĩ rằng bản thân đã từng có thể chạy trước đàn bò nhưng giờ lại không thể đảm đương nổi công việc phục vụ cà phê.

Bàn chân tôi đau đớn kể từ khi tôi gia nhập Starbucks. Ban đầu tôi nghĩ có lẽ tôi đã chọn sai giầy. Một đôi giầy thể thao màu đen đẹp đẽ. Rồi tôi mua một đôi giầy đế bệt màu đen (bạn được phép đi bất kỳ loại giầy nào miễn là màu đen). Nhưng chân tôi vẫn đau. Rồi một Cộng sự của tôi, một người đàn ông to lớn tên Anthony nói tôi nên thử đôi ủng của lính nhảy dù:

“Chúng được lính sử dụng để nhảy khỏi máy bay và tiếp đất.”

Giày cỡ lớn cũng được các Cộng sự hoan nghênh.

Tôi đã dành phần lớn số tiền khó khăn kiếm được cho đôi giày chiến đó nhưng chân tôi thậm chí còn đau hơn. Em gái tôi Holly, người mà chỉ kém tôi hai tuổi đã gọi và hỏi, “Công việc ở Starbucks thế nào rồi anh?”

“Tốt nhưng mà chân anh bị đau. Anh phải đừng cả ngày mà.”

“Đó là vì anh già rồi,” con bé trả lời một cách thẳng thắn. “Cái đệm thịt của chân chúng ta sẽ mỏng dần khi chúng ta già đi và chân chúng ta thấy đau hơn.”

Tôi cúp máy và cảm thấy tồi tệ hơn. Vì vậy tôi lại chọn đôi giầy bệt.

Điều thú vị là khi tôi đang làm việc thì chân tôi lại chẳng thấy đau. Giống như hồi tôi còn chơi bóng ở cấp ba: bạn sẽ chẳng để ý đến những đau đớn cho đến tận sau trận đấu. Nhiều năm trước, tôi đã trở lại Bronxville để tập luyện với đội bóng trường mặc cho thực tế là tôi cũng chả chơi giỏi lắm. Chúng tôi ngày nào cũng luyện tập dưới cái nắng kinh khủng của tháng 8. Với tất cả những nỗ lực đó tôi cũng chả tiến bộ hơn tí nào, vẫn là hậu vệ dự bị nhưng ít nhất thì lúc đó tôi cũng không thấy đau đớn gì với những hoạt động thể chất đó. Giờ thì ngày nào tôi cũng trong tình trạng phải thỏa hiệp với cái chân đau.

Đột nhiên tôi nhớ đến con trai tôi – Charles – khi nó nhảy xuống khỏi mái của cái đình ở giữa hồ ở khu miền quê vào năm ngoái. Khi đó nó mới mười bẩy tuổi nhưng đã cao hơn tôi mấy phân và đẹp trai hơn tôi nhiều. Thằng bé cũng giỏi vận động hơn. Nó được sinh ra với những kỹ năng thể chất mà tôi luôn thiếu. Charles đã nhảy vào bầu không khí mùa hè với một sự tự tin dễ dàng.

Tôi mỉm cười với ý nghĩ về cú nhảy tuyệt đẹp đó của nó khi lê bàn chân đau nhức khỏi nhà tắm. Tôi mặc một chiếc áo đen và quần đen, đi đôi giày bệt cũng màu đen và ra khỏi nhà.

Khi ra khỏi bến tàu điện ngầm, tôi nhìn lên một tấm bảng phía bên kia đường đang chỉ mức nhiệt tầm khoảng ba mấy độ rồi. Tôi dường như có thể cảm thấy cái nóng đang dâng lên từ vỉa hè đầy bụi bẩn.

Vào mùa hè, thành phố này chẳng bao giờ ngủ cả. Khi tôi đang đứng đợi Crystal ở số chín mươi ba và Broadway thì có vài kẻ say rượu lượn quanh. Tôi chỉ cúi đầu và đứng sát cửa ra vào của cửa hàng.

Tôi một lần nữa phải đối mặt với nghịch lý của đời mình – mười năm trước, khi còn là một doanh nhân bận rộn thì vào lúc 5 giờ sáng tôi đang trên một chuyến bay đêm trở về từ chuyến công tác tại Los Angeles. Còn từ hồi nghỉ việc, mỗi buổi sáng mùa hè tôi đều ngủ ngon lành trong ngôi nhà vườn lớn tại New England và chờ đón một ngày mới với việc bơi lội, chơi golf cùng những người bạn cùng tuổi, những người mà bây giờ cũng đã nghỉ hưu một cách yên bình hết cả rồi. Giờ tôi lại đang đứng trong đêm tối nguy hiểm của một New York nóng đổ mồ hôi để đợi vị sếp mới có 28 tuổi của mình. Tôi còn phải lo sợ mình làm không tốt việc mở cửa hàng Starbucks vào buổi sáng. Cái tôi kiêu ngạo của tôi trước đây sẽ phải kinh ngạc lắm trước những chuyện này.

Khi Crystal bước ra khỏi tàu điện ngầm, cô ấy khác đến nỗi tôi khó lòng nhận ra. Mặc một cái áo trùm đầu màu đen, cô ấy trông giống một người mà trong buổi sáng sớm tôi sẽ tránh không phải chạm mặt.

Tôi thấy nhẹ nhõm khi thấy cô ấy nhưng cô ấy lại không có thời gian để mà chào hỏi nhẹ nhàng. Bước vượt qua tôi, cố ấy tra chìa khóa vào ổ và nói tôi “hãy khóa nó lại khi anh vào”.

Tôi nhận ra là chúng tôi đang trong một cuộc đua và mỗi giây phút đều đáng giá. Chúng tôi phải mở cửa lúc 6 giờ sáng – tức là chúng tôi chỉ có một tiếng đồng hồ.

“Giúp tôi,” Crystal nói và tôi giúp cô ấy di chuyển những thùng bánh ngọt ra đằng sau. Số bánh này được mang đến các cửa hàng Starbucks mỗi sáng để đảm bảo sự tươi mới.

“Đây là đĩa sạch, anh hãy đặt bánh vào đây. Có sơ đồ trên vỏ hộp bánh và anh sẽ biết phải để bánh theo thứ tự nào. Tôi phải đi pha cà phê đã.”

Khi tôi mở hộp bánh đầu tiên, Crystall đột nhiên hét lên “Dừng lại!” khiến tôi giật nảy mình. Tôi chưa bao giờ thấy Crystal hét.

“Đeo mấy cái găng tay ni lông này vào,” Crystal nói và đưa cho tôi vài cái. “Chúng ta phải rất cẩn thận với đồ ăn. Đừng bao giờ chạm tay trần vào những chiếc bánh. Giờ anh có thể tiếp tục.”

Tôi mặc cái tạp dề xanh vào và nhìn lên bảng lịch trình luôn được gắn trên tấm bảng thông tin. Bianca sẽ đến lúc 6h30 rồi đến Joann lúc 9h. Joann chẳng bao giờ đến sớm hoặc ở lại quá muộn vì cô ấy có một đứa con phải chăm sóc và vì cô ấy là một người làm việc hiệu quả, Crystal luôn cho cô ấy chọn khung giờ cô ấy muốn đến. Tôi thấy mừng vì Bianca và Joann sẽ giúp chúng tôi vào buổi sáng bận rộn.

Rất nhanh cả cửa hàng đều tràn ngập mùi cà phê mà Crystal mới pha. Crystal vừa chuyển sang công việc khác vừa nói và dạy tôi về các bước trình tự:

“Tôi đã pha cà phê của hôm nay – Verona,” cô ấy nói, “rồi tôi cũng pha một ít cà phê loại nhẹ: loại tôi pha hôm nay là Colombia. Rồi cuối cùng tôi pha ít cà phê Decaf … giờ tôi đang pha Decaf Sumatra.”

Tôi gật đầu khi cô ấy nói to những cái tên đó với tôi. Làm sao mà cô ấy nghĩ là tôi có thời gian để học chứ? Tôi đang sắp xếp chỗ bánh nhanh nhất có thể trước khi mở cửa hàng. Có quá nhiều loại bánh và quá ít thời gian.

Tôi xe mở túi bóng đựng bánh scone. Có đến bốn loại: quế, mứt cây phong, việt quất và mâm xôi. Có năm loại bánh muffin: sô cô la, việt quất, bánh việt quất ít béo, ngô với phô mai cheddar, và muffin rắc hạt. Trong khi đó chỉ có ba loại bánh rán vòng – sô cô la, quế và bánh rán bọc đường – Starbucks phục vụ nhiều loại bánh: bánh việt quất ít béo, bánh cuộn quế ít béo, bánh cà phê truyền thống, bánh gato phủ vụn bánh, bánh mì việt quất, và bánh mì chuối các loại hạt. Tôi mở một gói bánh sừng bò sô cô la và một gói bánh sừng bò bơ. Rồi chúng tôi còn có cả bánh quy sô cô la và yến mạch, bánh hình vuông với mashmallow giòn giòn, bánh sô cô la cà phê thêm cà phê espresso và nhiều loại nữa mà tôi phải mở gói bọc và sắp xếp để bán.

Tôi nhìn lên hình ảnh minh họa trên mỗi hộp để biết mỗi loại bánh buổi sáng nên được để ở đâu. Cái này không giống đứng quầy và trả tiền lẻ. Tôi tự tin có thể đặt những chiếc bánh vào đúng chỗ của chúng – sau khi nhìn một lần, tôi đã nhớ ngay được hình đó. Tôi chỉ cần nhìn một hoặt hai lần là nhớ được. Ở Yale, tôi đã tập cho mình một trí nhớ hình ảnh tốt vì tôi học chuyên ngày Lịch sử Nghệ thuật nên phải dành rất nhiều đêm để ghi nhớ các loại hình ảnh. Tôi nghĩ một cách vui vẻ rằng những kỹ năng tôi học được từ hồi đại học cuối cùng cũng đã có tác dụng – sau bốn mươi năm.

Rồi tôi mở đến những gói bánh mì dài. Những gói bánh này là một vấn đề nan giải. Bao bì của chúng được thiết kế để giữ cho bánh tươi nhất có thể nhưng lại quá khó để lấy bánh ra khỏi vỏ ni lông. Với tôi, có lẽ người Mĩ sẽ được cả thế giới nhớ đến như những người đã phát minh ra những cái túi ni lông khó mở nhất – mục đích là để giữ mọi thứ tươi mới và tránh nhiễm khuẩn. Nhưng tôi không có thời gian cho những suy nghĩ trừu tượng như vậy vì Crystal đã mang một cái kéo đến giúp. Có lẽ tôi không phải là người duy nhất phải đánh vật với túi bọc của đám bánh mì dài này.

Khi tôi cắt vỏ bao của đám bánh mì quế với nho khô, bánh mì vừng hay bánh mì trắng rồi xếp chúng lên quầy bánh, Crystal gọi với ra để hướng dẫn tôi, “Giờ tôi sẽ làm trà đá. Trà xanh, trà đá đen và trà chanh.” Tôi nhìn cô ấy để báo là tôi đã nghe rõ rồi.

“Giờ thì anh đặt tên bánh cho từng loại đi,” Crystal nói và đưa cho tôi một cái hộp nhỏ đựng những cái biển tên nhỏ để chỉ từng loại bánh.

Cái nhiệm vụ này cũng không làm khó được tôi. Tôi thấy thật là tự hào vì đã xếp tên các loại bánh rất chính xác.

Những vẫn còn nhiều việc phải làm và thời gian thì đang trôi qua.

“Tôi sẽ bắt đầu mở quầy pha chế đồ uống,” Crystal nói, “còn anh làm bánh sandwich đi.”

Những cái bánh sandwich được xếp đằng trước của quầy bánh. Tôi chạy quanh để đặt các loại sandwich salad trứng, cá ngừ, gà tây lên từng ô được đánh dấu trên cái quầy. Có lẽ tôi không giỏi toán nhưng sắp xếp đồ theo hướng dẫn bằng hình ảnh thì tôi có thể làm một cách dễ dàng.

Tôi đứng nhìn khi hoàn thành xong giống như cả quầy bánh đầy ắp là một tác phẩm nghệ thuật vậy.

Crystal cười với tôi.

“Làm tốt lắm, Mike,” cô ấy nói và tôi cảm thấy như mình vừa mới thắng một cuộc đua ngựa.

Cuộc đua của chúng tôi sắp kết thúc rồi. Thời gian sắp hết, chúng tôi chỉ còn 5 phút trước khi đến 6 giờ.

“Giờ anh phụ trách quầy thanh toán ở giữa nhé,” Crystal nói. Tôi lấy khay tiền ra khỏi cái máy đầu tiên và đem đến cái máy đếm tiền để đếm đúng 150 đô la và mang nó lại quầy thanh toán vừa kịp lúc người khách đầu tiên bước vào.

“Mở cửa đi, Mike,” Crystal gọi to trong khi vẫn bận rộn sắp xếp quầy pha chế, đun sôi gậy chuyên dụng để đun sữa và pha thử cốc espresso đầu tiên để đảm bảo mọi thứ đều hoàn hảo.

Tôi đi ra mở cửa và cửa hàng bắt đầu buôn bán.

“Chào buổi sáng,” vị khách đầu tiên nói.

“Chào buổi sáng,” tôi trả lời và nhanh chóng đi ra phía sau quầy để phục vụ khách.

“Một cappuccino cỡ lớn ít béo,” anh ta nói với tôi, “và một bánh mì trắng với thạch.”

“Một cappuccino cỡ lớn ít béo,” tôi gọi to tên đồ uống cho Crystal và cô ấy gọi lại đúng như vậy.

Việc lấy bánh cho khách là của Cộng sự đứng ở quầy vì vậy tôi lấy cho anh ta một cái bánh mì.

Anh ta đưa tôi một đồng 5 đô la và tôi trả lại tiền.

Tôi còn nhớ Crystal đã nói với tôi là phải giao tiếp bằng mắt và trò chuyện với khách. Giờ tôi đã đỡ sợ các quầy thanh toán hơn nên tôi quyết định tập trung vào những gì tôi biết mình có thể làm. Dù sao thì trong hai mươi lăm năm làm việc ở cương vị phó chủ tịch điều hành của J. Walter Thompson, tôi cũng đã được trả rất nhiều tiền để nói – nên việc bắt đầu một đoạn đối thoại không phải vấn đề lớn.

“Anh hâm mộ Red Sox hả?” tôi hỏi vị khách vì anh ta đang đội một cái mũ của Red Sox. “Tôi không thấy nhiều người hâm mộ đội đó ở New York.”

“Thật ra thì không,” anh ta cười. Tôi chú ý thấy anh ta có mái tóc màu trắng, đôi mắt màu xanh và một nụ cười thân thiện. “Bạn cùng phòng của tôi ở trường Y của Harvard là một kẻ cuồng Red Sox. Trong suốt nhiều năm tôi chỉ ủng hộ đội Yanks và anh ta thì ủng hộ Red Sox. Và đội Yanks năm nào cũng thắng. Nhưng năm nay là sinh nhật 60 của tôi và anh ta tặng tôi cái mũ này nên tôi đã hứa là tôi sẽ ủng hộ Red Sox.”

“Chân trong chân ngoài hả?” tôi nói và anh ta cười.

“Tôi đội cái mũ anh ta tặng là nể mặt anh ta lắm rồi.”

Nói xong anh ta đi ra một cái bàn nhỏ ở trong góc.

Vị khách tiếp theo mà một anh bạn trẻ cùng với một đứa bé tầm 2 tuổi đang ngồi trong xe đẩy. Trước khi gia nhập Starbucks tôi chắc sẽ rất có thành kiến với người như thế này. Tôi thấy anh ta còn quá trẻ và vô trách nhiệm để có con nhưng giờ thì tôi đã biết việc đó không phải lúc nào cũng đúng.

Tôi chào anh ta, “Chào buổi sáng”.

“Tôi muốn một Venti Latte và một cái bánh mì trắng cho Ella.”

“Ella?”

“Con gái tôi đấy, nó được đặt tên theo Ella Fitzgerald.”

“Venti Latte,” tôi gọi to tên đồ uống và Crystal đáp lại y hệt.

“Cậu là một ông bố tốt,” tôi nói với anh ta khi đang trả tiền lẻ.

“Bắt buộc mà,” anh ta nói. “Tôi đã hứa với vợ mình. Tôi sẽ đưa Ella ra ngoài vào sáng sớm để cô ấy có thể ngủ thêm một chút.”

“Thật tuyệt,” tôi nói khi anh ta đẩy cái xe nôi đến cái bàn gần cửa. Tôi thích thú với cái ý nghĩ rằng Starbucks là nơi anh ta có thể thoải mái ngồi với cô con gái nhỏ vào buổi sáng sớm.

Tôi ngước lên nhìn một người phụ nữ quàng một cái khăn và đội mũ bê-rê rất đẹp. Cô ấy có đôi mắt to và nụ cười tươi.

“Một cà phê Venti … nhưng hôm nay các anh có những món gì?” cô ấy hỏi.

Tôi nhìn về phía sau. Mỗi tuần chúng tôi lại phục vụ một loại cà phê khác nhau và tất cả được ghi trên bảng tin.

“Verona,” tôi nói. “Cái này cũng ngon lắm.”

“Vậy tôi muốn một cốc Venti của loại đó. Với một ít sữa.”

Tôi pha cà phê cho cô ấy – mỗi người phục vụ quầy đều có thể làm các loại cà phê khác không phải espresso – và trả tiền lẻ cho cô gái.

“Cảm ơn,” cô ấy nói. “Đây là cách tốt nhất để khởi đầu một ngày mới.”

“Cô làm nghệ thuật à?” tôi đoán. Cô gái này cho người khác một cảm giác nghệ sĩ.

“Hôm nay là ngày đầu tiên.” Cô ấy cười. “Tên tôi là Denise. Chú sẽ thấy tôi mỗi sáng sớm ở đây.”

Cô ấy xoay người bước ra cửa. Denise làm công việc nghệ thuật nhưng là con người rất nguyên tắc và chăm chỉ.

Vị khách tiếp theo là một bà mẹ trẻ với đứa con trên tay. Cô ấy gọi “Một cốc có 2 phần mocha ít béo không kem Decaf”. Tôi lặp lại tên đồ uống cho Crystal nghe.

Crystal hét lại tên đồ uống theo thứ tự khác. “Một cốc Decaf với 2 phần mocha ít béo không kem.” Tôi biết là mình phải gọi tên các nguyên liệu như được liệt kê trên cốc cà phê theo thứ tự quan trọng tăng dần. Và rõ ràng Decaf quan trọng hơn số phần mocha cần thêm.

Người phụ nữ trẻ nghe thấy Crystal gọi tên đồ uống và có vẻ cảm kích. “Tôi thực sự cần Decaf,” cô ấy nói. “Tôi lại đang mang thai.”

Tôi kinh ngạc. “Thật tốt là cô vẫn có thể dậy sớm và chăm sóc tử tế cho con gái mình -”

“Nó là con trai đấy … Tên thằng bé là Max. Tên tôi là Rachel.”

Đột nhiên tôi nhớ ra là Rachel đã từng nói chuyện với tôi trước đây, và cũng đã giải thích lý do vì sao cô ấy cần Decaf. Tôi thật là ngu ngốc. Tôi từng rất tự hào về khả năng nhớ tên của bản thân nhưng vì quá bận tính tiền nên tôi đã quên mất.

“Thật tốt là cô đã mặc quần áo tử tế cho Max và dậy sớm thế này …” tôi trả lời một cách máy móc.

Rachel mỉm cười với tôi.

“Việc này không phải tự nguyện,” cô ấy giải thích với tôi như thể tôi cũng là một đứa trẻ. “Tôi phải uống Mocha vào buổi sáng nếu không tôi không thể làm tròn vai trò người mẹ hay bất kỳ vai trò nào.” Cô ấy cười và bước đi, vừa bế con vừa cầm cốc cà phê một cách khéo léo như đã quen rồi.

Không tự nguyện, tôi tự nghĩ. Công việc này thật tốt. Starbucks không phải thứ mà mọi người lựa chọn thích hay ghét một cách tùy tiện. Nó rõ ràng đã trở thành một phần cuộc sống của họ, một điểm đến quan trọng mỗi ngày. Thậm chí có người ghé tới vài lần mỗi ngày.

Từ hồi làm công việc này, tâm trạng của tôi đã tốt lên nhiều. Và lý do là vì ở công việc trước, tôi là khách hàng ngồi trong quán Starbucks và không thể tìm nổi khách hàng cho mình. Thật tốt vì giờ khách hàng tìm đến tôi hơn là tôi phải gọi cho họ giống như trước và chẳng có ai trả lời những cuộc gọi của tôi. Tôi thích chào hỏi những vị khách vào sáng sớm thế này và phục vụ họ. Họ không biết việc họ đợi một cách háo hức theo hàng để gặp tôi thế này là điều tuyệt vời đến thế nào.

“Hây, Mike,” Crystal gọi với ra từ quầy pha chế espresso với một giọng vui vẻ. “Anh chính là một tài năng bẩm sinh.”

“Tài năng bẩm sinh ư?” tôi hỏi lại.

“Anh đang làm rất tốt việc kết nối vào buổi sáng nay.”

“Kết nối?”

“Với khách hàng. Rất nhiều Cộng sự chỉ nhận và trả tiền, còn anh thì thực sự giao tiếp với khách. Anh rất hài hước. Anh là một gã thú vị đấy.”

Tôi nghĩ đây là một lời khen. Có lẽ tôi đã cho cô ấy thấy sự tự tin và năng lực mà cô ấy không ngờ tới. Tôi có cảm giác như một đứa trẻ được giáo viên khen ngợi.

Crystal vừa cười vừa quay lại quầy pha chế espresso.

Có gì thú vị thế nhỉ?

Hài hước là tốt à? Trong suốt nhiều năm làm việc cho các tập đoàn của Mỹ, tôi đã học được rất nhiều thủ đoạn kinh doanh nhưng chẳng có cái nào dùng được với Crystal cả.

Khách hàng và tôi có vẻ như có cười đôi chút khi nói chuyện. Tôi có khoảng thời gian rất vui và họ dường như cũng vậy.

Khi khách hàng vãn bớt, Crystal cũng hỏi han tôi vài chuyện phiếm. “Cô gái trẻ mà tôi thấy đi cùng với anh hôm trước là ai vậy?”

“Con gái tôi đấy.”

Crystal nhìn tôi ngạc nhiên và mỉm cười, “anh thật may mắn,” cô ấy nói. Tôi nghe ra trong giọng nói của cô ấy một sự dịu dàng mà trước đây không hề có.

Nhưng tôi không có nhiều thời gian để nghĩ về nó.

“Venti Americano thêm đá nhưng ít thôi nhé,” vị khách tiếp theo yêu cầu. Anh ta trông giống một doanh nhân trong bộ comple kẻ sọc.

Tôi nhận thấy mọi người ở Khu Thượng Bờ Tây này làm nhiều ngành nghề khác nhau. Và tôi thích điều này. Starbucks không chỉ có Cộng sự thuộc nhiều tầng lớp mà khách hàng cũng vậy.

Tôi nhìn một hàng khách thật dài ra đến ngoài cửa. Càng nhiều khách thì thời gian để tán gẫu càng ít. Nhưng tôi lại cảm thấy một thứ năng lượng tích cực khuếch tán tới chỗ tôi. Thay vì cáu bẳn khi nhìn thấy một gương mặt mới vào buổi sáng, mọi người có vẻ chào đón tôi.

Trong lúc vội vã phục vụ vị khách tiếp theo, tôi đã đưa 6 đô thay vì 16 đô la cho một cô gái trẻ trông rất trí thức, đang mang một cái máy tính xách tay trong cái túi đeo trên vai.

“Tôi rất xin lỗi,” tôi nói. “Tôi biết cô đang vội đi làm.”

“Đừng lo,” cô ấy còn dành thời gian an ủi tôi trước khi vội bước đi. “Anh sẽ làm tốt thôi.”

Crystal đã nói với tôi về sự tôn trọng và giờ đây với tôi thì sự tôn trọng đó không chỉ dành cho các Cộng sự mà còn cho khách hàng.

Công việc này thật khác biệt so với thế giới của những người đàn ông đầy cạnh tranh tại J. Walter Thompson! Khách hàng trước đây thường có được thời gian vui vẻ nhưng đó là đánh đổi bằng hạnh phúc của tôi. Khi làm việc cho dự án của Ford, khách hàng thỉnh thoảng cũng sẽ khá thoải mái với những lỗi lầm. Tôi vẫn nhớ bài trình bày đầu tiên của mình với một nhóm thương nhân bán xe cho Ford tại New England. Khi đứng dậy để thực hiện bài trình bày, tôi đã quá run đến nỗi làm đổ một bình cà phê lên chân Jerry Mantoni tới từ Rhode Island. Ông ta là một triệu phú buôn bán xe. Ông ta lúc đó lập tức đứng dậy để lau cái quần âu màu xanh sáng bóng của mình. Lúc đó tôi nghĩ có lẽ mình sẽ bị đuổi việc vì đã gây ra đau đớn cho một nhân vật quan trọng như vậy nhưng cả căn phòng đầy những doanh nhân nhiều kinh nghiệm lại phá ra cười. Và họ đã chọn những ý tưởng của tôi. Họ đã nói với sếp tôi là họ muốn tôi có mặt trong các cuộc họp của họ.

Một lần khác, sau khi trình bày trước hơn hai trăm ý tưởng quảng cáo tiềm năng cho Iacocca – mà mỗi ý tưởng là thành quả của những nỗ lực phi thường – ông ta chỉ nói: “Tôi chả thích cái nào hết.” Một lần nữa cả phòng đều bật cười. Mọi người ở Ford đều sống trong nỗi sợ hãi và họ muốn thấy người khác bị làm xấu mặt trước đám đông.

Ông sếp đầu tiên của tôi tại J. Wakter Thompson đã nói với tôi rằng, “Nỗi sợ hãi là liều thuốc tăng lực tốt nhất.”

Quảng cáo mà bạn đang làm có thể là một tuyệt tác hoặc một đống rác. Trò chơi mà bạn đang chơi chỉ có thắng hoặc thua. Và không phải cái quảng cáo mà chính là người trình bày nó phải chịu ảnh hưởng. Bạn có thể trở thành một thiên tài sáng tạo hoặc một kẻ vứt đi. Nếu bạn có thể giành được hợp đồng thì bạn là anh hùng; nếu không thì bạn chẳng có tí giá trị nào. Chỉ có 2 lựa chọn như vậy đấy. Và tất nhiên ở nơi đó cũng chẳng có sự tôn trọng hay tôn nghiêm. Những từ đó về cơ bản là không được nhắc đến.

Ở Starbucks thì cả Cộng sự và khách hàng đều ngầm đồng ý rằng mọi người nên được đối xử bằng sự tôn trọng và tôn nghiêm. Tôi chưa bao giờ thấy một môi trường làm việc như ở đây. Những công ty thuộc top 500 của Fortune mà tôi được biết thì chỉ chi hàng đống tiền trong nhiều tháng trời để viết ra những cam kết nghe có vẻ hoành tráng và chẳng bao giờ thực hiện những lời hoa mỹ mà họ thuyết giảng.

Bainca đến lúc 6 giờ 30 đúng. Cô ấy cười ngọt ngào với tôi khi đi đến quầy của mình. Bianca nhỏ người và tôi đoán cô ấy chắc chỉ tầm 19 tuổi nhưng cô ấy tính tiền và gọi tên đồ uống đều tốt hơn tôi. Tôi thấy biết ơn khi có cô ấy ở bên cạnh giúp đỡ.

Khi Joann đến vào lúc 9 giờ, của hàng đã đông đến nỗi khách dồn cục lại.

Cả ba chúng tôi làm việc ở quầy thanh toán trong khi Crystal vẫn miệt mài pha chế espresso ở quầy pha chế. Cô ấy chẳng bao giờ có vẻ bối rối mặc cho lượng khách không ngừng đến và cả ba chúng tôi đều gọi tên các loại đồ uống cho cô ấy. Chúng tôi như một dàn đồng ca của quán cà phê. “Venti Latte với sữa tách béo có đá, Decaf cỡ lớn với Mocha trắng, Grande Breva Latte vị vani, Cappuccino cỡ lớn,” chúng tôi liên tục gọi theo thứ tự món đồ uống riêng của Starbucks.

“Nghỉ mười phút nhé,” Crystal nói với tôi như vậy. Sau vài tiếng làm việc liên tục thì bạn sẽ được nghỉ ngắn. Tôi vui mừng vì có thể rời khỏi khu quầy thanh toán và bắt đầu đi về phía sau của quán.

“Này Mike,” Joann gọi tôi. “Hôm nay có vỡ cái bánh nào không vậy?”

“Tôi không biết,” tôi trả lời. Tôi chưa từng bận như thế khi phải sắp xếp những chiếc bánh thế nên làm sao mà tôi còn kiểm tra được có cái nào bị vỡ không.

“Giúp anh ấy kiểm tra phiếu đi,” Crystal nói với Joann.

Joann đi về phía tôi và chúng tôi cùng tiến về phía sau quán.

“Khi anh lấy bánh ra, luôn luôn phải kiểm tra có cái nào bị hỏng không. Nếu có thì phải gọi họ để họ chịu trách nhiệm.”

Joann nói bằng một giọng nhỏ và đầy an ủi. Tôi thích cái cách mà cô ấy giảng giải cho tôi … một cách rất dịu dàng.

Cô ấy lôi ra một cặp kính và đeo vào.

“Kính mới à?” tôi hỏi.

“Đúng thế, giờ tôi có thể nhìn rồi!” Cô ấy cười.

“Thế trước đây cô giả vờ à?” tôi cũng cười theo nhưng không thực sự tin lắm.

“Kiểu như vậy,” Joann nói. “Tôi chưa từng có thể nhìn một cách rõ ràng nhưng lại chẳng đi khám ở chỗ nào hết. Anh cũng biết đấy – ” cô ấy nhìn tôi và cười – “Giờ thì Starbucks trả tiền khám mắt và cả tiền kính cho tôi.”

“Thật tuyệt,” tôi nói một cách chân thành. Kiểm tra thị lực miễn phí chưa bao giờ nằm trong gói phúc lợi nào dành cho tôi trước đây – kể cả ở tập đoàn lớn. Những lợi ích khi làm việc cho Starbucks đặc biệt là cho một nhân viên bán thời gian như Joann là rất hiếm. Thực tế thì tôi chưa bao giờ nghe đến lợi ích này trước đây.

“Anh biết Yvette chứ?” Joann hỏi. Yvette là một nhân viên mới được tuyển. Cô bé còn đang đi học nên tôi hiếm khi gặp mặt và chưa bao giờ làm cùng một ca với cô bé. Đó là một cô gái người Mỹ gốc Phi cao lớn và lúc nào trông cũng vội vã.

“Yvette hôm nay không ở đây,” Joann nói. “Con bé đi nhổ răng khôn. Nó chưa từng đi khám răng bao giờ.”

Tôi choáng váng. Nha sĩ thì chưa bao giờ tới mà đại học thì lại đang học rồi. Lúc đó tôi nhận ra rằng Starbucks không chỉ đem lại những lợi ích sức khỏe cho nhân viên mà còn khuyến khích họ quan tâm, chăm sóc bản thân mình.

“Còn bây giờ,” Joann tiếp tục, “anh có nhìn thấy bản liệt kê được gửi kèm đống bánh không?”

“Tôi không thấy cái nào cả.”

“Có lẽ anh lúc đó quá vội,” Joann nói và nhìn xung quanh. Rồi cô ấy nhìn thấy cái thùng rác tôi dùng để đựng giấy bỏ đi. Rồi cô ấy lục được một danh sách dài in đầy những loại bánh.

Cô ấy chỉnh lại cặp kính.

“Cùng kiểm tra cái này nào,” cô ấy nói và lấy ra một cái bút. Chúng tôi kiểm tra toàn bộ những cái bánh để đảm bảo chúng không có vấn đề gì. Có một cái bánh scone vị mâm xôi bị vỡ.

“Chúng ta chia nhau cái này nhé,” Joann nói và mỉm cười.

Tôi sớm nhận ra rằng mỗi Cộng sự có khẩu vị của riêng họ. Joann thích scone vị mâm xôi và việt quất. Bianca thích brownie vị cà phê. Loại mà Crystal thích nhất là những miếng bánh hạnh nhân cà phê. Còn tôi thì không thể cưỡng lại những chiếc bánh quy có sô cô la vụn.

“Mike, anh có thể trở lại tiếp tục làm việc không?” Tôi nghe thấy Crystal gọi với ra. Tôi lập tức phóng ra để tiếp tục công việc ở quầy.

Khoảng mười giờ, Kester đến và thay cho Crystal. Anh ấy nở nụ cười lớn với tôi và xử lý quầy pha chế một cách hoàn hảo. Giống Crystal, anh ấy dường như không có vấn đề gì khi thực hiện việc pha trộn hỗn hợp của mười tám loại đồ uống. Anh ấy dường như vẫn rất thảnh thơi khi gọi, “Capuccino venti siêu đặc, Latte cỡ lớn, Latte Grande không béo, không đường vị vani, Machiatto Decaf cỡ lớn vị caramel, Mocha trắng cỡ lớn với kem,” và những loại Latte, Cappuccino, Doppios và Machiatto khác. Rồi buổi sáng trôi qua và những vị khách trẻ tuổi bắt đầu xuất hiện để gọi Caramel, Cà phê, Mocha và những loại Frappuccino đá đang được yêu thích trong mùa hè.

Tôi nghỉ ăn trưa ba mươi phút mà cứ ngỡ chỉ có năm phút rồi lại quay lại với công việc cho đến khi kết thúc ca làm vào buổi chiều. Tôi cởi cái tạp dề màu xanh và đi xuống tầng hầm để bỏ nó vào đống đồ cần giặt. Vậy là tôi cũng vượt qua ngày đầu tiên làm nhiệm vụ mở quán. Cái nhiệm vụ này khiến cho việc chạy đằng trước lũ bò chỉ dễ như ăn kẹo.

Ngoài chức năng để chứa đồ cần giặt và chứa rác để mang đi đổ vào buổi tối thì tầng hầm còn là nơi riêng tư để bất kỳ ai muốn ở một mình vài phút có thể đến đó.

Khi đi xuống, tôi thấy Crystal đang đứng trong góc, và nói chuyện điện thoại. Tôi không muốn làm phiền cô ấy nhưng lại phải đi qua chỗ cô ấy để bỏ tạp dề vào túi đựng đồ giặt.

Cô ấy ngắt điện thoại, lắc đầu và luồn tay qua mái tóc. Tôi nhận thấy là cô ấy đang khóc.

Tôi không muốn thất lễ, nhưng tôi cũng không thể cứ im lặng khi cô ấy dường như đang gặp vấn đề. “Có chuyện gì vậy?”

Crystal thở dài. “Là Winston. Em họ tôi. Nó đang ở trong phòng cấp cứu … Người ta nghĩ tim nó có vấn đề.”

“Nghiêm trọng thế sao,” tôi hỏi một cách ngu ngốc. Và lời tôi nói khiến Crystal trông càng tồi tệ hơn. Tôi muốn giúp cô ấy. Và tôi nảy ra một ý tưởng. Bác sĩ Cohen là một gã thực sự phiền phức đối với tôi vì luôn bắt tôi phải tập thể dục nhiều hơn. Ông ấy luôn ám ảnh với những liệu pháp phòng bệnh. Nhưng trong trường hợp này thì sự cố chấp của ông ấy có lẽ sẽ có ích. Ông ta sẽ biết làm thế nào để lấy thông tin và phải làm gi.

“Để tôi thử gọi cho bác sỹ của mình nhé? Ông ta khá là phiền phức nhưng lại làm được nhiều việc và có thể giúp được em họ cô.”

“Winston bị thừa cân … lúc nào cũng vậy. Nó còn bị cao huyết áp … thế nên đừng làm phiền bác sĩ của anh. Có rất nhiều bác sĩ ở bệnh viện rồi.”

“Nhưng vị bác sĩ này rất giỏi trong việc cắt nghĩa những điều vớ vẩn mà bệnh viện hay nói.” Tôi không thể nói khác được. “Ông ấy sẽ biết một cách nhanh nhất chuyện gì đang xảy ra và sẽ làm được gì đó.”

“Vậy thì được,” Crystal nói một cách do dự.

Tôi bấm số văn phòng bác sỹ Cohen.

Trợ lý của ông ấy trả lời.

“Moira, Michael Gill đây. Bác sĩ Cohen có đó không?”

“Ông ấy đi nghỉ rồi.”

“Đi nghỉ ư?”

“Ngài Gill, bây giờ là tháng 8 đó.”

“À, tôi hiểu … thế ông ấy ở đâu?”

“Ở nhà.”

“Ở đâu cơ?”

“Trong căn hộ của ông ấy trong thành phố. Anh cũng biết ông ấy ghét ra khỏi thành phố.”

“Moira cô có thể làm ơn cho tôi xin số điện thoại nhà của ông ấy không?”

“Hỏi quầy thông tin ấy. Số điện thoại nhà của ông ấy được liệt kê trong danh sách. Nó ở Park Avenue.”

Tôi lấy được số và bác sĩ Cohen trả lời ngay tiếng chuông đầu tiên.

“Xin chào.”

“Chào bác sỹ. Tôi xin lỗi đã làm phiền ông …”

“Ai vậy?”

“Michael Gill…”

“Việc tập thể dục sao rồi? Anh có thực hiện bài tập kéo dãn mà tôi hướng dẫn anh vào mỗi sáng không? Anh có thấy khá hơn không?”

“Không, tôi gọi vì một người bạn. Một người em họ của cô ấy vừa bị đưa vào phòng cấp cứu và chúng tôi rất biết ơn nếu ông có thể gọi cho họ và xem có chuyện gì đang xảy ra.”

“Tháng 8 không phải thời điểm tốt để vào phòng cấp cứu ở thành phố New York này. Tên anh ta là gì?”

“Winston?” Tôi nhìn qua phía Crystal.

“Winston Grove,” cô ấy nói. “Nó đang ở Mount Sinai.”

Tôi lặp lại thông tin cho bác sĩ Cohen.

“Chỗ đó như cái sở thú ấy,” bác sĩ Cohen nói. “Thôi được. Chỗ đó cũng không xa nhà tôi lắm. Tôi sẽ đi đến đó vậy. Cho tôi số của bạn anh đi.”

Tôi đọc số của Crystal cho ông ấy. Quản lý cửa hàng của Starbucks luôn cho các Cộng sự số của họ trong trường hợp có việc khẩn cấp xảy ra.

“Tập thể dục đi đấy nhé,” bác sĩ Cohen nói, và dập máy. Tôi cảm thấy biết ơn vị bác sĩ này vô cùng.

Crystal nhìn tôi, lau nước mắt và không dám mong đợi gì hơn. (Sau đó tôi mới biết bác sĩ Cohen đã giúp mọi việc suôn sẻ. Hóa ra Winston đúng là bị cao huyết áp và bị chứng tim đập nhanh thể nhẹ. Bác sĩ Cohen nói với Crystal rằng nếu cậu ta chịu ăn kiêng và tập thể dục thì tình trạng sẽ được cải thiện.)

“Cảm ơn Mike,” Crystal nói, sau khi tôi kết thúc cuộc gọi. “Gặp anh sau nhé. Tôi muốn đi thăm Winston.”

Cô ấy bước lên những bậc thang của tầng hầm và rồi lại quay đầu lại.

Tôi quay lại để nhìn cô ấy.

“Hôm nay anh đã làm tốt lắm,” cô ấy nói và rời đi.

 

 

Ủng hộ Rừng Hổ Phách

Mong các bạn ủng hộ để Amber duy trì trang web. Nếu không có Paypal thì có thể:
1. Chuyển khoản tới: Hoang Mai Nhung - 0021002033624 - Vietcombank.
2. Chuyển qua Momo
3. Gửi thẻ cào điện thoại Vietel
Chân thành cảm ơn!

Lịch

Tháng Tư 2020
H B T N S B C
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930  
error: Content is protected !!