Chương 148: Ai? Lâm Tiểu Mai?
Trong phòng làm việc tại nhà của giáo sư nông nghiệp Đỗ Xuyên Sinh là những món đồ bằng gỗ đặc mang vẻ nặng nề nhưng lại tạo nên vẻ trang nghiêm.
Đỗ Xuyên Sinh ngồi trên ghế gỗ cạnh bàn trà và vừa vừa cầm cốc trà to để uống vừa đọc một đống bài mà tổng biên tập Vương Thư đã tuyển chọn để đăng trên báo.
Bởi vì đây là tạp chí khoa học nên số lượng bài viết không nhiều. Vì thế nó là tờ báo bán nguyệt san với tên “Báo thăm dò khoa học”. Mà dù nửa tháng mới có một số nhưng có khi không đủ bài thì họ cũng phải đăng lại những bài hay.
Mỗi lần in báo, Vương Thư sẽ mang theo các bài chọn lọc tới nhờ các vị giáo sư ở các trường đại học lớn cùng thẩm duyệt. Chỉ khi các giáo sư thông qua thì họ mới dám soạn bản thảo. Báo khoa học chuyên nghiệp đâu thể tùy tiện đăng bậy bạ.
Giáo sư Đỗ Xuyên Sinh chính là một người trong số đó. Tuy chưa tới 40 tuổi nhưng ông là giáo sư chuyên ngành chăn nuôi có thâm niên nhất và còn được đi tu nghiệp ở nước ngoài.
Bởi vì hiện tại quốc gia còn đang ở giải đoạn phải đảm bảo ăn uống no đủ nên nông nghiệp và chăn nuôi chính là trụ cột chính. Dù muốn phát triển các ngành công nghiệp và xây dựng thì cũng phải chờ tới khi nông nghiệp và chăn nuôi đứng vững cơ sở mới có thể tiến hành.
Ở thời đại này, nông nghiệp và chăn nuôi cực kỳ được coi trọng. Cũng vì thế mà mấy thập niên này trở thành giai đoạn phát triển rực rỡ của nông nghiệp và chăn nuôi.
Trong quá trình ấy, các giáo sư nông nghiệp và chăn nuôi cực kỳ được coi trọng. Bọn họ là rường cột quốc gia giúp chống đỡ sự phát triển. Dù không có tiếng tăm gì nhưng cũng là những người mang theo hàm lượng kỹ thuật và rất được ủng hộ.
Thế nên mỗi lần có bài viết mới thì vị giáo sư đức cao vọng trọng này sẽ được đọc đầu tiên. Và việc ông lựa chọn bài nào sẽ trở thành tiêu chuẩn cho các vị giáo sư sau đó cân nhắc.
Vương Thư ngồi trên ghế gỗ đối diện và vừa nhấp ngụm trà vừa trộm quan sát vẻ mặt của giáo sư. Bởi vì việc chọn lọc các bài báo chuyên nghiệp không dễ nên anh đặc biệt sợ sẽ nhìn thấy giáo sư Đỗ nhíu mày hay khó chịu gì đó.
Ánh mặt trời chiếu vào, giáo sư Đỗ bỗng nhiên buông chén trà và lật bản thảo trên tay về trang đầu tiên sau đó đọc lại.
Không còn tiếng ông ấy nhấp trà nên trong nhà chỉ có tiếng tiếng sột soạt của trang giấy. Vương Thư nhìn vẻ mặt giáo sư Đỗ có thay đổi thì không nhịn được tò mò không biết ông ấy đang đọc bản thảo nào.
Đọc một lúc giáo sư Đỗ buông bản thảo và nghiêng đầu trầm ngâm.
Vương Thư lập tức thăm dò và nghiêng đầu xem tiêu đề bản thảo thì phát hiện ông ấy đang đọc bài “Ba điều có thể mọi người không biết khi nuôi bò!”.
Anh cũng có ấn tượng với bài này. Cách tác giả gửi bài cũng rất đặc biệt, không giống cách những người khác gửi bài cho báo. Nhưng trọng điểm nội dung của nó lại cực kỳ bắt mắt khiến người đọc chỉ liếc một cái đã có thể đoán đại khái bài viết gì dù chưa đọc toàn bộ.
Tác giả là một nhà văn mới gửi bài cho các báo vào đầu năm nay. Lối hành văn của cô ấy rất tốt, văn chương ẩn chứa tinh thần tích cực hướng về phía trước, cực kỳ phù hợp với giai điệu của thời đại.
Vì thế lúc Vương Thư đọc được bài văn của Lâm Tuyết Quân là lập tức nhận ra tác giả ngay. Vốn anh còn lo người này sẽ dùng từ ngữ hoa lệ và trau chuốt để miêu tả chút kiến thức hời hợt trên thảo nguyên nhưng không ngờ cô lại thu lại toàn bộ cách hành văn trước kia. Cô chỉ sử dụng một ít từ vựng đơn giản dễ hiểu, không hề có những từ chuyên ngành hẹp để mô tả nội dung. Đồng thời cô nghiêm túc tập trung vào những công việc quan trọng nhất trong quá trình nuôi bò —— biên tập viên hoàn toàn không cần chỉnh sửa lại mà có thể trực tiếp đăng bài này cho người dân chăn nuôi đọc tham khảo.
Việc không dùng các thuật ngữ chuyên nghiệp thật sự tốt. Như thế người đọc có thể trực tiếp coi nó như kim chỉ nam và biên tập viên bọn họ cũng thích nhất những bài văn thế này. Họ vừa có thể lưu lại làm tư liệu chuyên ngành vừa tránh được phiền toái khi biên tập và trực tiếp đăng luôn.
Lúc ấy Vương Thư lập tức sinh ra hảo cảm thật sâu với Lâm Tuyết Quân ——
Một người có thể thu lại cách hành văn vẫn được người đời ca tụng của bản thân để đặt mình vào hoàn cảnh của người dân chăn nuôi và toàn tâm toàn ý sáng tác một bài văn phổ thông dễ hiểu đến mức bất kỳ người dân chăn nuôi nào biết chữ cũng có thể đọc và hiểu sau đó trực tiếp áp dụng những kiến thức chuyên nghiệp trong đó để làm lợi cho mình thì nhất định phải là người cực kỳ thông minh và đủ chân thành.
Vương Thư đang nhớ lại thì bỗng giáo sư Đỗ hoàn hồn và nhìn anh sau đó hỏi: “Anh bạn trẻ này lần đầu gửi bài à?”
“Đúng là lần đầu gửi bài nhưng người này gửi một lúc hai bài.” Vương Thư chỉ chỉ tập bản thảo trong tay ông ấy và nói, “Phía dưới còn một bài nữa về gieo trồng cỏ linh lăng.”
“……” Giáo sư Đỗ lật tới bài tiếp theo và quả nhiên thấy bài thứ hai của Lâm Tuyết Quân.
Ông đọc tiêu đề siêu dài và bật cười.
Khi một người xa lạ đọc văn của một người khác thì dù chưa quen biết nhưng vẫn có thể đối thoại ăn ý thông qua tình thần của mỗi câu văn. Người đọc có lẽ chưa bao giờ nói với tác giả một câu, cũng không biết tuổi tác, giới tính, đối phương béo hay gầy nhưng bên trong thế giới của các con chữ, họ vẫn cảm nhận được linh hồn của tác giả có cộng hưởng với mình không.
Đây chính là cái gọi là ‘Người đọc văn tôi viết và trở thành tri kỷ của tôi’.
Giáo sư Đỗ cẩn thận đọc hai lần bài báo của Lâm Tuyết Quân với tiêu đề “Ba điều mọi người có thể không biết về nuôi bò” và mơ hồ cảm thấy tác giả này rất quen thuộc. Đây là một người có tư duy sinh động, mục đích mạnh mẽ. Tiêu đề kiểu “Gieo trồng cỏ linh lăng tím chất lượng tốt ở thảo nguyên: Điểm mấu chốt hóa ra lại ở chỗ này!” quả thực chính là phong cách của Lâm Tuyết Quân.
Tươi cười trên mặt ông chợt lóe lên rồi biến mất. Ông buông bản thảo đầu tiên và nhanh chóng đọc bài báo mới một lượt, rồi lại tỉ mỉ đọc lần thứ hai.
Ông xem đến mê mải và không nhịn được lẩm bẩm: “Năng lực của đất, cải tiến đất đai, chống hạn, chịu rét, sản lượng……giá trị dinh dưỡng…… Protein…… Một năm cắt hai lần, mỗi lần… Không thích ẩm ướt…… Không thể cho ăn quá nhiều……”
Trong quá trình ấy, ông tiếp tục phát hiện rất nhiều câu có con số nhỏ ở cuối. Lúc lật tới tờ cuối ông thấy người viết cẩn thận giải thích bổ sung nguồn gốc thông tin cho mỗi con số nhỏ kia.
Có số liệu lấy từ ghi chép trong quá trình gieo trồng thực tế tại thảo nguyên, có cái dịch từ tài liệu tiếng Nga, còn có cái đến từ những cuốn sách chuyên ngành cô nhờ người thân và các tòa báo mua hoặc mượn cho mình từ thư viện thủ đô hay thư viện Hồi Hột.
Cô không viết một cách tùy tiện mà thật sự muốn đào sâu nghiên cứu ngành này và cực kỳ nghiêm túc.
“Tác giả bài này là giáo viên trường nào thế?” Giáo sư Đỗ ngẩng đầu hỏi. Ông biết hết các giáo sư của ngành này nên người có thể viết một bài thế này chắc hẳn phải là giáo viên của một trường nào đó mà ông không nhớ nổi tên.
Vương Thư lại cười và lắc lắc đầu, “Không phải giáo viên.”
“Là sinh viên ư?” Giáo sư Đỗ giật mình trố mắt và hít một hơi. Ông nhớ tới những số liệu chân thật lấy từ thảo nguyên ở biên cương thì lập tức hiểu rõ.
Hiện tại đa số sinh viên đều là công nhân, nông dân và quân nhân ưu tú được công xã, các đội sản xuất và các binh đoàn đề cử. (Hãy đọc truyện này tại trang RHP) Anh chàng Lâm Tuyết Quân này có lẽ là một nông dân ưu tú trong lao động và học tập nên được công xã tiến cử tới đại học Công Nông Binh vì thế mới hiểu biết số liệu của thảo nguyên như thế.
Hợp lý, dễ hiểu.
Nhưng không ngờ Vương Thư vẫn lắc đầu thế là ông nghiêng đầu nhíu mày và khó hiểu hỏi: “Không phải sinh viên Đại học Công Nông Binh ư?”
“Là thanh niên trí thức chi viện cho thảo nguyên, là người từ thủ đô đó.” Vương Thư cười và chỉ chỉ một bài báo của Lâm Tuyết Quân được giáo sư Đỗ đặt trên bàn, “Anh quen ba của tác giả đó.”
“Con … con trai của Lâm Ưng Chí sao? Không phải nó đi bộ đội à?” Giáo sư Đỗ nghĩ một lúc thì chỉ có mỗi một nhà họ Lâm là ông biết.
“Lâm tiên sinh còn có một đứa con gái còn nhỏ, tên cúng cơm là ——”
“Tiểu Mai?” Giáo sư Đỗ không thể tin được mà trợn mắt. Rồi ông lại nhìn phần ký tên trên bài báo thì thấy ‘Lâm Tuyết Quân’ và lập tức thấp giọng a a hai tiếng.
Dù là người bình thản cũng khó tránh khỏi kinh ngạc.
Năm đó Tiểu Mai được sinh ra và ông lão nhà họ Lâm muốn đặt cho cháu mình một cái tên thật kêu nên tìm rất nhiều người để hỏi ý. Lâm Ưng Chí nhắc tới bài “Bạch Mai” của Vương Miện:
“Băng tuyết trong rừng phủ tấm thân,
Chẳng cùng đào mận loạn phương trần.
Hốt nhiên một tối hương thanh ngát,
Bừng khắp đất trời vạn dặm xuân.” (thivien.net)
Bản thân giáo sư Đỗ còn ra ý tưởng xấu và xui đặt tên đứa nhỏ là ‘Lâm Phương Xuân’.
Con nhóc béo mũm nằm trong tã lót kia hả?
Ông hít một hơi và ngẩng đầu nhìn Vương Thư đang gật đầu sau đó không nhịn được cười ha ha.
Ông chỉ cảm thán nhân sinh đúng là khó lường, mọi chuyện đều có thể sinh ra kỳ tích. Một kẻ bướng bỉnh như lão Lâm đâu có ngờ con gái mình lại dấn thân vào chuyên ngành của Đỗ Xuyên Sinh này!
“Hai bài này đều tốt. Cậu viết thư cho con bé và khen nói một chút, cũng gửi cho nó nhuận bút tử tế vào, đừng có keo kiệt.” Giáo sư Đỗ đứng lên và không còn vẻ mặt lạnh lẽo như ngày thường nữa. Ông ấy vỗ vỗ nếp nhăn trên ống quần và muốn tiễn khách.
“Giáo sư?” Vương Thư đứng lên, tay cầm mấy bài báo còn lại và nhìn ông ấy với ánh mắt dò hỏi.
“Cậu đưa những bài còn lại cho các giáo sư khác xem. Bây giờ tôi muốn tới văn phòng tìm lão Lâm ngồi chơi một lát, ha ha.” Dứt lời ông đi tới cửa lấy cái áo khoác quân đội thô kệch trên mắc để khoác lên người sau đó giũ ra một cái khăn quàng cổ kẻ ô vương trông rất hào hoa phong nhã rồi cứ thế mang bộ dạng ‘Từ cổ trở lên là một vị giáo sư du học Anh nho nhã, lịch thiệp; từ cổ trở xuống lại là một ông lão luộm thuộm, nhếch nhác’ mà ra cửa.
Vương Thư chỉ đành mang theo bản thảo và túm lấy áo khoác lông và mũ của mình rồi giúp giáo sư khóa cửa sau đó đuổi theo.
……
Dân chăn nuôi di chuyển từ khu chăn thả mùa thu về nơi dừng chân mùa đông trong hơn một tuần. Mãi tới khi đàn ngựa cũng thuận lợi trở về và an toàn vào chuồng thì đại đội trưởng Vương Tiểu Lỗi mới có thể thở phào nhẹ nhõm.
Chờ sắp xếp xong ở nhà mình, Tháp Mễ Nhĩ lại tới nhà Lâm Tuyết Quân và nhìn cái gì cũng thấy mới mẻ:
“Ấy, con đường đá vụn này tốt thật, bằng phẳng lại sạch sẽ!”
“Chuồng gà này do đồng chí Mục làm ra ư? Chuồng bò cũng khá tốt đó.”
“Nuôi nhiều gà vịt ngỗng thế này ư? Óe sao con ngỗng này còn biết cắn người? Này, này ——”
Bị con ngỗng đuổi ra khỏi nhà kề thế là Tháp Mễ Nhĩ sửa sang lại cái áo choàng vừa bị cắn xộc xệch rồi chạy ra ngoài xem hai con nai sừng tấm.
Đám nhỏ của đội sản xuất cũng chưa từng thấy nai sừng tấm và đương nhiên Tháp Mễ Nhĩ cũng thế. Anh lập tức học đám nhỏ và ngày ngày tới đây sờ soạng hai đứa nó. Nhưng anh có thể làm việc hỗ trợ, cũng không sờ nai mà không làm gì. Anh có thể lên núi tìm cỏ và mấy loại quả đã đông cứng nhưng vẫn có thể ăn để tụi nó thêm cơm.
Sau khi gió lạnh ngừng thổi, đại đội trưởng kiểm kê mọi gia súc và tiếp tục chia tổ nhỏ với các tổ trưởng để phụ trách việc chăn thả. Bởi vì A Mộc Cổ Lăng còn phải vẽ tranh nên được xóa tên khỏi nhiệm vụ chăn thả còn Mạnh Thiên Hà không thể chạy xe kéo vào mùa đông nên được bổ sung vào đội ngũ.
Y Tú Ngọc và Lâm Tuyết Quân nghĩ không phải ngày nào gia súc cũng bị bệnh nên trong thời gian rảnh rỗi họ cũng đi chăn thả. Ai biết đại đội lại nhận được thiện thoại của công xã nói là vào mùa đông các đại đội không cần trồng trọt, người chăn nuôi đều về nơi dừng chân mùa đông nên nhân lực nhiều lại rảnh rỗi vì thế đám nhỏ phải tranh thủ học tập, người trưởng thành cũng tham gia học tập. Các đội điều động 5 người dân chăn nuôi tới đội số 7 học tập với Lâm Tuyết Quân về các tri thức phòng dịch, kiến thức thú y cơ bản. Ngoài ra đồng chí Lâm cũng sẽ dạy mọi người về nội dung gieo trồng cỏ nuôi gia súc.
Và thế là Lâm Tuyết Quân không thể đi chăn thả và Y Tú Ngọc cũng phải ở lại học tập. Ngay cả những thanh niên ưu tú, tiến tới như Tháp Mễ Nhĩ và Thác Á đều phải tới học. Ngoài ra còn có những thanh niên trí thức đang một lòng khát vọng hòa nhập với thảo nguyên cũng được đại đội trưởng sắp xếp vào đội ngũ.
Lâm Tuyết Quân mang theo A Mộc Cổ Lăng và Y Tú Ngọc nhanh chóng kiểm tra đám gia súc mới về nơi dừng chân.
Con nào chân có vấn đề thì đưa tới chỗ những người chăn nuôi để tu sửa.
Con nào trên người có vết thương hở không quá nghiêm trọng thì giao cho A Mộc Cổ Lăng làm sạch.
Con nào có vấn đề tiêu hóa nhỏ thì giao cho Y Tú Ngọc bốc thuốc dưỡng dạ dày và tăng mỡ.
Những con ăn mãi không béo và bị người chăn nuôi ghét bỏ thì giao cho Lâm Tuyết Quân tìm ra nguyên nhân. Nên bổ sung nguyên tố vi lượng và thực đơn đặc biệt thì xách ra ngoài cho ăn riêng. Có những con đã được tẩy giun vào mùa xuân nhưng vẫn đầy giun thì được tặng một liều thuốc nữa rồi bị đưa qua một bên cho ị ra giun…
Chờ làm xong mọi công việc thì học viên của các đội sản xuất cũng lần lượt tới đội số 7. May mà họ mang theo tiền, khoai tây, cải trắng, gạo tẻ và bánh bao tới chứ không đại đội trưởng Vương Tiểu Lỗi thật sự muốn khóc.
Nhiều tàu há mồm như thế thì dù chỉ học 1 tuần cũng ăn lậm vào đống lương thực dự trữ của họ mất.
Các học viên mới vừa dựng xong lều nỉ để ở tạm và chưa kịp lên lớp buổi nào đã tới nhà ăn lớn để ăn bữa cơm đầu tiên. Và từ đó lòng trung thành của họ tăng 10 lần, chả ai muốn rời đội số 7 nữa ——
Nhà ăn ở đây không chỉ có cải trắng hầm bò viên ngon miệng!
Nó còn có món bò vụn xào hành ăn với cơm, thơm muốn mạng!
Để tiết kiệm số thịt có hạn, tránh trường hợp 2-3 tháng mùa xuân xã viên đều không có thịt ăn nên quản lý hậu cần của các đội khác chỉ hận không thể bẻ 1 lạng thịt ra thật nhỏ để ăn trong 1 tuần. Vừa vào đông mọi người đã tiến vào thời kỳ thắt lưng buộc bụng.
Nhưng!
Đội số 7 lại đang ăn thịt!
Hơn nữa —— Mỗi! Ngày! Đều có một bữa thịt!