Chương 80: Nướng bát tiên
Họ đã không gặp nhau hai mươi mấy ngày nhưng vẫn duy trì việc gửi thư cho nhau.
Sau khi Vương Phùng Niên nhận được hồi âm thì càng thích Giang Doanh Tri thêm một chút.
Bởi vì Giang Doanh Tri là người thích khen người khác và lời khen của cô đều đánh trúng tâm khảm của người ta. Trước kia cô cự tuyệt thì hoàn toàn không hề đáp lại dù chỉ một chút. Nay cô đồng ý thử tìm hiểu nên cũng đối xử với tình cảm của anh một cách thỏa đáng. Rốt cuộc anh cũng không còn phải diễn vở đơn phương nữa.
Ví dụ như Vương Phùng Niên tặng gừng thái lát bọc đường đỏ thì lúc hồi âm cô sẽ nói mình ăn rất ngon, rồi nói gừng này chọn rất tốt, không cay chút nào, nước đường cũng nấu không tồi, tay nghề quả thực tiến bộ nhiều.
Rồi cô sẽ gửi cho anh một phần thịt lợn khô mà cô bớt thời gian tự tay làm. Cô chọn thịt lợn tốt nhất, sau khi băm nát mới dàn mỏng rồi quay thành màu đỏ đậm và thêm một tầng vừng. Cô thái miếng nhỏ rồi nhét vào giấy dầu và gói lại sau đó gửi qua.
Rồi anh kể mình mới tăng thêm trợ cấp đánh bắt vụ đông cho ngư dân nên cô cũng khen ngợi rằng ông chủ Vương sắp trở thành Hải Thần trong lòng ngư dân rồi. Lần sau tới ăn cơm anh không cần trả tiền nữa, ngoài ra còn được tặng một bàn tám món.
Anh cũng kể chuyện mình đã chuẩn bị xong xuôi và đang chọn ngày lành để khai trương dịch vụ vận chuyển hàng nam bắc. Thế nên cô tặng cho anh một đôi quẻ một úp một ngửa được buộc với nhau. Ở Hải Phổ người ta gọi đây là quẻ âm dương và quẻ thắng, đại diện cho đại cát đại lợi.
Hai người không gặp nhau nhưng chỉ cần thư từ qua lại cũng có thể kéo gần mối quan hệ và dần trở nên thân thuộc.
Thế cho nên dù có gặp mặt cũng không cảm thấy xa lạ.
Hai người đều trân trọng lần gặp gỡ này nên tỉ mỉ ăn mặc rồi sóng vai nhau đi trên đường.
Vương Phùng Niên đặt bàn ở Lí trấn, trong một hẻm nhỏ. Họ đi lên những bậc thang bằng đá, đi qua cửa tròn, bên trên là một sơn trang tên Nguyệt Lai.
Giang Doanh Tri chưa bao giờ nghe đến cái tên này nên tò mò hỏi, “Đây là chỗ ăn cơm hả?”
Cô đánh giá chung quanh thì thấy hai bên bậc thang đều có hoa cỏ, dưới hiên treo các loại đèn biển tinh xảo, cạnh cửa có tiểu nhị dẫn hai người vào.
Vương Phùng Niên đi phía sau và đáp: “Phải. Vị đầu bếp này rất giỏi, lát nữa em ăn nhiều một chút.”
Chờ Giang Doanh Tri ngồi trong phòng thì thấy bên ngoài có chuối tây bên hồ nước, trong hồ có cá chép đang bơi. Cô vừa ngồi đó vừa thưởng thức cảnh đẹp.
Lát sau có tiểu nhị tới báo tên đồ ăn gồm nướng bát tiên, cua bọc muối, cá bọc thịt, canh tam hoàng, hải sâm hầm đậu tươi và thịt cua, cuối cùng là cá hố hương trà.”
Chỉ nghe tên món ăn đã thấy rất thú vị nên Giang Doanh Tri nói, “Nơi này hẳn có sự tích. Không biết bát tiên là những món gì?”
Vương Phùng Niên rót cho cô một chén trà và đáp rất tự nhiên vì đã có chuẩn bị từ trước, “Có cua trứng, bề bề, sò biển, tôm càng xanh, hàu, ngao, bào ngư, nghêu mật.”
Tám món này đúng là bát tiên. Giang Doanh Tri nhướng mày bởi vốn cô cũng không quá chờ mong bữa ăn này có điều hiện tại nghe được tên đồ ăn thì cô lại thấy rất hứng thú.
Nồi được bưng lên là Giang Doanh Tri đã ngửi được mùi gừng lát với mùi rượu vàng chứng tỏ họ không dùng gia vị nào khác. Đầu bếp ở đây hẳn rất tin tưởng hải sản mình dùng.
Và món nướng bát tiên này quả thực không phụ cái tên của nó. Cua được dùng là cua xanh. Theo nông lịch hàng năm thì từ ngày 3 tháng 8 tới ngày 23 là lúc cua xanh béo nhất, vỏ cứng, cua mập mạp.
Hải Phổ dùng từ tưu mâu để chỉ cua tháng 8 và nó còn được gọi là cua xanh mép răng cưa. Nó không giống cua xanh bình thường mà sống ở nơi nước lợ nên thịt cua càng ngon hơn. Trứng của nó rất nhiều, vừa bẻ ra đã lộ trứng đỏ au và gạch mềm màu vàng. Cua cũng chắc thịt, cắn một cái và mút là sẽ thấy nước ngọt nóng hổi trào ra.
Lúc Giang Doanh Tri ăn cơm rất nghiêm túc nên Vương Phùng Niên cũng không nói gì mà chỉ yên lặng bóc bề bề.
Ăn cua không khó, nhưng bề bề lại là chuyện khác. Nếu không biết ăn thì vừa đau tay vừa đau miệng.
Thật ra người Hải Phổ gọi bề bề là tôm tích. Bản thân Giang Doanh Tri cũng gọi như thế nhưng nó còn nhiều tên gọi khác như tôm ông, tôm bà, tôm phú quý, tôm bọ ngựa, tôm tỳ bà, tôm búng v.v.
Trong một năm, có ba khoảng thời gian bề bề béo nhất, một là trước và sau ăn tết, hai là lúc lúa mạch ngả vàng vào tiết tháng 5-6. Lúc ấy chính là lũ cá mùa hạ nên bề bề trốn biệt không thấy.
Còn lúc này hoa cúc vàng, đúng lúc tụi nó thò đầu ra. Đặc biệt là trên bãi biển, chúng nó và cua xanh tranh nhau chiếm cứ các nơi.
Đương nhiên bề bề này là vớt ngoài biển nên lưng có đốm đen. Nó khác các loại bề bề khác và ở Hải Phổ người ta gọi là tôm nhảy, thịt béo hơn bình thường.
Nó được vớt ở biển gần nên tươi hơn các loại bắt ở biển xa. Chỉ cần cắm cái đũa vào vỏ và kéo lên là hai lớp vỏ sẽ tách nhau ra hoàn chỉnh không dính. Thịt mềm béo cũng hoàn toàn hiển hiện.
Giang Doanh Tri thích ăn bề bề nhưng không thích bóc vỏ. Tuy cô có thể dùng miệng lột một con bề bề hoàn chỉnh rất nhanh nhưng bị đâm đau nhiều lần nên không thích lắm.
Lúc cô còn đang do dự nên động tay hay nên nói chuyện thì có một đĩa bề bề bóc vỏ hoàn chỉnh được đưa tới. Vương Phùng Niên xoa xoa tay nói, “Em ăn đi. Hôm nay anh tới đây chỉ để phục vụ em thôi, em cần gì cứ sai bảo.”
Giang Doanh Tri cười, “Cái gì? Nhưng đầu bếp Vương bóc bề bề giỏi thật đó.”
Giang Doanh Tri nhìn đống bề bề thì thấy rất hoàn chỉnh, không bị nát rồi lại nhìn công cụ anh dùng là kéo chứ không phải đũa.
Kéo có thể cắt gọn, tay cũng không chạm vào vỏ bề bề. Giang Doanh Tri thấy thế thì hơi xúc động.
Và sau đó cô quả thực cũng muốn hưởng thục sự chăm sóc của Vương Phùng Niên. Anh bóc vỏ hải sản vừa nhanh vừa đẹp, dù là cua, hay cái loại tôm càng xanh có vỏ với thịt bám chặt lấy nhau.
Đương nhiên món khiến Giang Doanh Tri vừa lòng nhất là món cua ngâm muối. Cua sống được ngâm trong nước muối một ngày một đêm, lúc gỡ mai ra sẽ thấy trứng đỏ lộ rõ, thịt cua trong suốt.
Cô chỉ nếm một chút thì thấy hương vị còn ngon hơn cua ngâm rượu. Rồi món cá hố mang vị trà cũng có cách làm thật mới lạ. Đầu tiên người ta ngâm cá hố với lá trà, lúc rán lên mùi sẽ nồng hơn. Chờ nó được bỏ ra đĩa lại thêm lá trà thái nhỏ được rán qua nên vị rất lạ.
Giống như đang ăn cao trà ở thể rắn. Lúc xé thịt cá hố xuống thì mùi trà lập tức phiêu đãng ra ngoài. Khi bỏ vào mồm là mùi hương kia dần chuyển sang đậm hơn.
Giang Doanh Tri nghĩ tới tôm xào Long Tĩnh. Bản thân cô rất chịu khó thử các món với mùi vị khác nhau và khá bao dung với việc này. Cô còn từng ăn rau cần nước bọc hàu sống. Cả con hàu sống xanh mướt như lớp vỏ của một món ăn nào đó và mùi vị ấy đúng là một lời khó nói hết.
Cô nói với Vương Phùng Niên về món ấy và lúc nói còn tươi cười. Đầu tiên anh cũng hùa theo, sau đó lại lẳng lặng nhìn cô.
Giang Doanh Tri rất vui với bữa cơm này. Sau khi ăn xong thì hồ nước đã phản chiếu sắc trời nhạt dần. Chim biển mà sơn trang nuôi bay tới cúi đầu mổ mặt nước.
Giang Doanh Tri mặc một cái váy màu xanh của nước và dựa bên cửa sổ khắc hoa thưởng thức cảnh non nước và sắc trời hòa vào nhau. Vương Phùng Niên thì ở bên cạnh lặng lẽ ngắm cô.
Hai người chỉ ngẫu nhiên nói một câu nhưng không khí cũng có vẻ hòa hợp. Trong lúc ấy họ còn nghe được ông lão ngồi trong sân thổi ốc biển.
Và trong bầu không khí ấy, Vương Phùng Niên đưa cho cô một phong thư màu đỏ.
Giang Doanh Tri duỗi tay đón lấy thì thấy khá dày và cứng. Đây không phải giấy viết thư nên cô vừa mở ra vừa hỏi: “Đây là cái gì thế? Em không đoán ra. Chẳng lẽ anh lại liệt kê của nả hay gì đó hả?”
“Không phải, em mở ra xem đã,” Vương Phùng Niên phủ định đáp án kia.
Giang Doanh Tri mang theo tò mò và chậm rãi mở ra rồi lấy cuốn sổ con bên trong và đọc.
Cô hơi kinh ngạc nhưng sau đó là cảm động và vui vẻ.
Trên sổ con có một chuỗi thời gian, là từng mốc thời gian liên quan tới con thuyền thương mại lớn của cô cho đến hôm nay.
Ngày 10 tháng 6 khởi công lấy vật liệu làm thuyền.
Ngày 20 tháng sáu dựng khung thuyền.
Rồi tới dựng thanh xà trên nóc, lắp dầm lớn, đặt đấu chống, bố trí ‘thuyền linh’, tất cả đều do Vương Phùng Niên tự tay lo liệu. Đến khâu quan trọng nhất là đặt ‘mắt thuyền’, cũng gọi là ‘định thái’ (định màu) anh đều làm ổn thỏa.
Sau khi định mắt thuyền người ta sẽ dùng vải đỏ che lại gọi là phong mắt và chờ chủ thuyền tới kéo vải đỏ xuống gọi là khải mắt. Rồi thuyền mới được hạ thủy và đó cũng là ngày sinh nhật của thuyền.
Vương Phùng Niên dùng tờ thiếp chính thức để nói với cô rằng thuyền đã xong, mời cô chọn ngày lành tới khải mắt.
Giang Doanh Tri quả thực cảm thấy rất vui vẻ. Lúc cô mở tờ thiếp ra và nhìn thấy ghi chép trên sổ con thì giống như cũng mường tượng ra con thuyền dần hình thành trước sự chứng kiến của anh.
Vương Phùng Niên ôn tồn nói: “Em chọn một ngày mình thích đi.”
“Mười lăm tháng tám đi,” Giang Doanh Tri cất tờ thiếp và tươi cười xán lạn, “Em thích ngày trăng tròn đoàn viên.”
Đó cũng là lần gặp mặt tiếp theo của hai người.
Hiện tại bọn họ còn không thích hợp gặp mặt hàng ngày bởi lời đồn đãi vớ vẩn mà lan ra thì không ổn. Hơn nữa một khi gặp hàng ngày thì họ sẽ càng muốn gặp đối phương và làm lỡ các việc khác. Người ta cũng dễ mất đi nhớ nhung và không còn mới mẻ.
Còn nếu cách xa nhau một thời gian mới gặp thì trong những ngày tháng bận rộn ở giữa họ còn có thể nhớ mong một chút.
Có lẽ so với ngày ngày gặp mặt thì Giang Doanh Tri thích thư từ qua lại hơn. Như thế có thể tìm hiểu lẫn nhau, đồng thời có thể lựa chọn con đường mình muốn đi về phía trước và không quấy rầy đối phương.
Cô còn chưa tích cóp đủ tiền mua ngư trường. Sau khi tới Diêu Tinh Phổ cô nằm mơ cũng thấy con sông uốn lượn kia và biển xanh mênh mông.
Cô nghĩ một khi có ngư trường thì mình cũng không thể mở rộng tiệm cơm hơn nữa. Dù người có nhiều cũng chỉ có thể có tầm trăm người tới một lúc, cô cũng không muốn liều mạng thúc đẩy việc kinh doanh một cách điên cuồng.
Vậy phải nghĩ tới việc mở rộng thực đơn.
Và cô đang theo dõi nguyên liệu chính được nhắm tới lần này: Bề bề.
Đầu tiên cô quyết định hai món là bề bề muối tiêu và bề bề hấp muối. Sau đó cô chọn mua khá nhiều túi giấy dầu, tận mấy thùng lớn khiến người trong tiệm cơm đều kinh ngạc.
Thế còn chưa đủ, cô còn cố ý nhờ Chu Xảo Nữ mời người của Tây Đường Quan bắt bề bề bán cho mình. Vừa lúc có thuyền chở khách nên họ có thể vận chuyển bề bề tới đây.
Ngoài cái này ra, Trần Cường Thắng cũng mang theo người chèo thuyền vớt bề bề ở các vùng biển gần.
Nguyên việc rửa sạch một lượng bề bề lớn như thế đã mất nhiều công sức. (Truyện này của trang runghophach.com) Ấy thế mà Giang Doanh Tri lại hoàn toàn không sợ. Cô trực tiếp qua tay giao việc rửa đống bề bề ấy cho xưởng cá ở phố Giang Hạ. Như thế vừa có thể giải quyết vấn đề của mình lại tạo công ăn việc làm cho xưởng cá trong mùa ế hàng. Mà quan trọng nhất là thêm hỗ trợ cho Vương Tam Nương trong việc thăng lên làm quản sự.
Đống bề bề được rửa sạch sẽ và được khử tanh bằng muối xào với gừng. Người ta sẽ xếp một tầng muối, một tầng bề bề và hấp bằng lửa nhỏ tới khi muối thấm vào bên trong.
Một phần khác được cô dùng làm món bề bề muối tiêu. Bề bề được rán qua rồi đặt một bên rồi lại rán lại một lần sau đó mới rắc muối tiêu.
Đương nhiên cô bán món này ở cả tiệm cơm lẫn sạp ở cảng.
Hiện tại cảng cá đã chậm rãi hưng thịnh hơn nên có nhiều người ở Lí trấn qua lại. Người ở các đảo khác cũng theo thuyền chở khách mà tới nhiều.
Không phải ai cũng có kiên nhẫn tới tiệm cơm và chờ những món ăn ở đây dù chúng có ngon thế nào. Nhưng nếu họ gặp nó ở đầu đường và có thể nhanh chóng mua rồi mang theo túi giấy dầu để ăn, trên đó còn có tên của tiệm cơm Bốn mùa tươi ngon thì dù là ai cũng muốn nếm thử.
Vậy nên cô mới vừa bày bán không lâu đã có rất nhiều người bu tới hỏi đây là món gì.
Đặc biệt là lúc bề bề được rán lại, rắc muối tiêu và được phụ bếp giũ giũ thì mùi hương kia thật sự mê hoặc người ta. Bên ngoài con bề bề được bọc một tầng muối tiêu và vị mặn của nó dần thấm vào bên trong vỏ.
Thịt bề bề được rán vừa tốt, xốp giòn, lại thơm nức nên dù là người không biết tiếng tăm của tiệm cơm cũng bị hấp dẫn tới.
Trong lúc nháo nhào ấy có người gào thật to, “Để cho anh mấy phần nhé!”
Giang Doanh Tri vừa nghe đã biết đó là Hải Ca. Chưa từng có ai đam mê muối tiêu như thế, đã vậy anh ấy còn có cái mũi cực kỳ nhạy bén với muối tiêu.
Trong lúc bận rộn cô vẫn để cho anh ấy một phần sau đó Hải Ca cuống quít đón lấy và trả bảy xu. Tiếp theo anh ấy đứng ngay ở chỗ có nhiều người để ăn. Tay anh cầm một con bề bề và ăn trước mặt mọi người. Đầu tiên là mút phần muối tiêu bên ngoài sau đó bóc vỏ bề bề theo dọc sống lưng và để lộ phần thịt đầy đặn bên trong. Phần thịt hơi đong đưa được anh cẩn thận bỏ vào miệng sau đó anh nhắm mắt nhai nuốt, hoàn toàn ngó lơ ánh mắt của người khác.
Sau khi nếm được thịt bề bề vị muối tiêu, anh còn nhai phần vỏ răng rắc.
Người ta nhìn thấy thế thì nuốt nước miếng rồi bu đen bu đỏ trước tiệm cơm với sạp đồ ăn. Đặc biệt là khi những người mua được đồ lập tức ăn luôn khi còn nóng thì cái mùi ấy khiến ai ngửi cũng phải thèm. Mà cái bệnh thèm này sẽ lây lan thế nên người ta lại càng lũ lượt kéo tới tiệm cơm.
Bản thân Giang Doanh Tri chuẩn bị cũng đủ nên hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu lớn. Cô có thuyền của mình nên đương nhiên muốn bắt bao nhiêu thì bắt. Xưởng cá cũng đảm bảo rửa sạch bề bề cho cô. Chỉ cần đầu bếp nhà cô không mệt thì cứ rán mãi được.
Có điều cô vẫn không lường trước được người tới mua lại nhiều thế. Chỉ tới trưa đã hết hàng. Cô lắc lắc cánh tay và nhìn mấy thùng tiền lớn tràn đầy thì hơi thất thần, hoàn toàn không biết mình kiếm lời bao nhiêu.
Cuối cùng cô đậy nắp thùng và thuê xe ngựa đưa tới tiền trang. Năm sáu tiểu nhị giúp cô đếm nửa buổi chiều và xâu thành từng xâu treo lên. Con số cuối cùng thật kinh người.
Chỉ một ngày cô đã lời 189 lượng. Thật sự không thể tưởng tượng nổi. Cô đã coi nhẹ sức mua sắm của người dân Hải Phổ rồi. Ai tới cũng mua 5-6 túi, có người còn mua mười mấy túi.
Lại cộng tiền kiếm được của tiệm cơm nữa thì tổng là 225 lượng.
Cô ôm hai tấm ngân phiếu và cảm thấy không quá chân thật, đi đường cũng lâng lâng.
Tiểu Mai đi cùng cô tới tiền trang thấy thế thì hỏi: “Chị cười ngốc nghếch gì thế?”
“Đừng quan tâm tới kẻ có tiền,” Giang Doanh Tri hừ một tiếng và càng cười tươi hơn.
Từ khi bề bề muối tiêu trở nên nổi tiếng thì ngày càng có nhiều người tới mua. Danh tiếng của tiệm cơm cũng lan ra các đảo chung quanh. Mỗi ngày đều có người nghe tiếng mà tới, dù sao tiền đi thuyền cũng rẻ.
Ngoài việc bán bề bề ngày càng phát đạt thì Giang Doanh Tri còn nhận được lời cảm ơn ân cần của ông chủ cửa tiệm giấy dầu vì số hàng cô mua bằng số lượng ông ấy bán cả năm. Hiện tại công nhân trong nhà đều đang vội vã làm túi giấy dầu vì thế ông ấy còn đặc biệt tặng cô hai thùng dầu cây trẩu.
Đương nhiên tiền Giang Doanh Tri kiếm được cũng ngày càng nhiều, dần dần đạt tới con số 3000 lượng mà cô cần.
Rốt cuộc tới ngày thứ 10 cô đặt tờ ngân phiếu một trăm lượng cuối cùng lên bàn một cách vang dội và tuyên bố, “3500 lượng! Đi thôi, mua ngư trường.”
Tiểu Mai hoan hô còn Chu Xảo Nữ thì ôm lấy vai Giang Doanh Tri rồi nói vất vả.
Một ngày đó Giang Doanh Tri ký khế ước mua ngư trường dưới con mắt mang theo trêu chọc của Sở Quan. Cô mất hơn nửa ngày mới làm xong giấy tờ.
Diêu Tinh Phổ và khu hải vực rộng 30 km quanh đó đều thuộc về cô, là ngư trường của mình cô!