Chương 94 (2)
Tới mùng năm, các cửa hàng đều mở cửa buôn bán.
Giang Doanh Tri nghỉ ngơi mấy ngày và hoàn toàn không muốn đi làm nữa, cũng không muốn mở cửa hàng mà chỉ muốn rúc trong ổ chăn. Nhưng cô không có cách nào bởi có thực khách đã tới tận cửa. Nếu muộn một ngày thì cửa gỗ nhà cô vỡ mất.
Cô mới nghỉ 5 ngày đã bị bắt đi làm.
“Sao mới tí tuổi đã đòi nghỉ ngơi vậy?” có người hò hét, “Cô mà nghỉ thì chúng tôi ăn cái gì? Tôi chỉ được ăn có một bữa tử tế vào đêm giao thừa, còn lại toàn ăn đồ thừa hâm lại.”
“Chứ gì nữa. Có ai ngờ năm ngoái ăn tết tôi còn có thể ăn cá khô hầm thịt 5-6 bữa không vấn đề gì thế mà hiện tại ăn một bữa tôi cũng không nuốt nổi. Trong đầu tôi chỉ có cá nướng, bánh bao, bánh bao gạch cua, xương sườn muối tiêu, a a a, tôi đói muốn điên rồi.”
Giang Doanh Tri bị ồn ào đến đau đầu. Cô chỉ nghe thấy bọn họ chí chóe mãi thế là đành yên lặng vung muôi nấu ăn.
Cô tưởng mùng 5 đã nhiều nhưng không ngờ qua tháng giêng còn đông hơn. Tiệm cơm đón một dòng khách lớn không phải người Hải Phổ. Nhóm người này đến từ khu vực ven biển từ đây tới Minh Phủ. Họ đều hướng tới cảng cá.
Chuyện này phải kể tới sau khi cảng cá được xây dựng.
Hải Phổ có cảng cá nhưng không có bến cho tàu đậu vì thế cần không ít nhân lực vận chuyển qua lại. Con tàu cũng phải đậu ở xa, cực kỳ bất tiện. Đã vậy nơi này còn nhiều quan khẩu, phải nộp nhiều thuế nên ngoài cá đù vàng lớn nhỏ và mùa mực định kỳ thì thuyền hải ngoại tới đây không nhiều.
Nhưng khi quan khẩu lớn nhất bị phá bỏ, người ta không cần nộp quá nhiều thuế nữa, lại có thêm bến tàu thì thuyền từ Minh Phủ tới đây cũng nhiều hơn hẳn.
Và với con người thì đời này quan trọng nhất là ăn uống tiêu tiểu. Bốn việc này còn lớn hơn trời.
Nhưng những người tới Hải Phổ trước kia không quá ấn tượng với đồ ăn ở đây.
“Anh chẳng biết gì,” có thương nhân nói, “Tôi đã tới Hải Phổ nhiều lần nên biết muốn ăn ngon phải tới Tân Phong Lâu và Tứ Hải Trang. Ngoài ra không có chỗ nào ra gì.”
“Chỗ đó là tửu lầu, giá đắt chết đi được,” một người cao gầy mở miệng, “Theo tôi thì Hải Phổ không bằng Minh Phủ. Nơi này nhỏ nên ngoài tửu lầu thì không có tiệm cơm nào ra hồn.”
Hai người vừa trò chuyện vừa xuống thuyền. Dù đói đến run người, không đi được nữa nhưng họ cũng chỉ muốn chọn đại một chỗ ăn cho qua bữa là được chứ không trông mong gì. Nhưng nội dung nói chuyện của họ lại lọt vào tai ngư dân đang buộc dây thuyền thế là người kia cực kỳ không phục. Sau khi buộc xong dây thuyền, anh đi lên gọi hai người nọ.
“Hai vị đã lâu không tới Hải Phổ đúng không?” Ngư dân hỏi.
Thương nhân có vóc dáng cao quay đầu lại nhìn anh và hỏi, “Tụi tôi tới và mùa cá vụ xuân năm ngoái, sao thế?”
“Bảo sao,” ngư dân kia cười ha hả nói, “Hải Phổ bây giờ đã không giống trước kia rồi.”
“Có gì khác? Không phải chỉ thêm một bến tàu thôi hả? Cái khác không nói nhưng riêng việc ăn cơm thì đâu so được với Minh Phủ. Dù so với các đảo khác thì tay nghề của đầu bếp ở đây cũng không thể so được. Có thể ăn no đã không tồi,” thương nhân vóc dáng thấp ghét bỏ mà nói.
Trước kia mà bọn họ nói thế thì người nghe đều mặt đỏ tai hồng và muốn cãi cọ. Có vài người không thể phản bác thì lặng lẽ thừa nhận.
Nhưng ngư dân trước mặt lại không hề giận. Người đi ngang qua cũng đều cười giống như không phải đang nói Hải Phổ bọn họ.
Cái gã thương nhân thấp bé kia bị chọc tức thì cười hỏi, “Sao nào? Lời tôi nói không đúng à?”
“Nay đã khác xưa rồi,” ngư dân kia đáp trả và cao giọng nói, “Tới tiệm cơm Bốn mùa tươi ngon mà xem. Nhưng đó là nếu các anh có thể chen được vào.”
“Hôm qua anh tới tiệm đó ăn cơm hả?” Có người đi ngang qua chỗ ngư dân kia và hỏi đồng bạn của mình, “Sao chen được vào trong rồi mà không gọi tôi hả? Còn không mang phần về cho tôi nữa, tức quá mà!”
“Nếu là chỗ khác thì tôi nhất định gọi anh nhưng chỗ kia là tôi đi ăn mảnh, gọi anh theo làm gì!” Người còn lại rất đúng lý hợp tình đáp.
Mà quan trọng là bọn họ không cãi nhau nữa, và mọi người nghe cũng cảm thấy hợp lý.
Những người này bắt đầu mỗi người một câu làm cho hai thương nhân kia nghệt ra nhìn nhau. Bọn họ cực kỳ bực bội. Chơi trò thần bí gì vậy? Căn bản chưa từng nghe nói tới chỗ kia.
Bọn họ không hỏi được những người ở đây thì tới cảng cá hỏi ngư dân. Thật không ngờ cả đám lập tức nhiệt tình chạy ra nói cho họ.
“Ngay ở phía trước kìa, chỗ người ta chen chúc ấy. Mọi người tới muộn quá rồi, hôm nay chắc chắn không ăn được.”
“Đúng vậy, người ta xếp hàng dài tới đường cái rồi ấy, bên trong chắc chắn không còn chỗ nữa. Ngày mai lại tới đi, trời chưa sáng đã phải xếp hàng thì tới trưa mới có chỗ.”
Hai người kia a một tiếng và căn bản không tin tiệm cơm này lại nấu ăn ngon đến thế. Không chen được vào thì thôi, lên Lí trấn ăn.
Không ngờ tới Lí trấn rồi họ cũng chỉ thấy người trên đường thảo luận về tiệm cơm kia. Nói là ăn cá cuốn ở đó ngon tới độ cả ngày đều thèm.
Đến tiệm cơm rồi họ còn thấy hai tiểu nhị thương lượng xem ai tới tiệm cơm kia xếp hàng. Tiêu nhiều một chút cũng không sao, chỉ cần có thể ăn được món ở đó bán là được.
Từ khi hai người từ cảng cá tới đây tổng cộng khoảng một canh giờ nhưng đã nghe người ta nhắc tên tiệm kia ba mươi mấy lần. Lúc này họ thật sự rất tò mò rồi.
Kết quả xếp hàng cả buổi sáng mới tới lượt khiến lòng họ tràn đầy oán giận. Nhưng trong cơn giận dữ muốn mắng to một câu ấy họ lại ngửi được mùi thơm thế là tức giận tan một nửa.
Lúc hai đĩa đồ ăn nhỏ là cá hun khói và xíu mại phỉ thúy được bưng lên, bản thân họ còn chưa ăn nhưng cơn giận đã tiêu tan.
Thương nhân có vóc dáng thấp nói thầm, “Làm đẹp quá.”
Vừa ăn vào miệng là ông ta đã ngây người sau đó không nói gì mà vội vã gắp xíu mại nhét vào miệng.
Sao lại ngon thế này? Vỏ là màu xanh phỉ thúy, vừa mỏng vừa trong suốt để lộ nhân bên trong là gạo nếp và lạp xưởng, còn có thịt vụn. Nhân kia vừa béo lại không ngấy. Ăn xong một cái đã muốn kẹp hai cái còn lại và bảo vệ chặt chẽ.
Vốn họ còn đang tức giận nhưng hiện tại cơn tức ấy đã bay theo chín tầng mây. Chờ đến lúc ăn cá cuốn thì quả thực cả hai đều hận không thể móc hết tiền của mình cho tiệm cơm này.
Loại cá cuốn này có phần ngoài dùng cá thu băm nhuyễn trộn với tinh bột thành vỏ nên đặc biệt dai. Trước khi chưng người ta sẽ cuốn trứng gà, hành lá, và củ mã thầy. Bên ngoài còn bọc một tầng mỡ lợn. Sau khi chưng chín thì cá keo lại khiến vỏ dai giòn, mỡ lợn mềm ngậy ngon miệng.
“Lần trước anh nói gì?” Kẻ cao hơn hỏi.
Kẻ thấp hơn từ mắng bản thân mình rồi nói: “Tôi nói nơi này thật thần kỳ, ăn ngon không tả được.”
Không chỉ có hai kẻ kia như thế mà phàm là người nào lúc trước ghét bỏ thì một khi vào tiệm là sẽ thay đổi sắc mặt. Tất cả đều vui vẻ đi ra.
Lời đồn cứ thế lan xa, một truyền mười, mười truyền trăm, chỉ cần là người từ bên ngoài tới Hải Phổ thì nơi đầu tiên được đề cử chính là tiệm cơm Bốn mùa tươi ngon.
Danh tiếng của tiệm dần được mọi người lan truyền ra ngoài. Đến đầu xuân, tuy biển vẫn lạnh lẽo nhưng đã có rất nhiều thuyền đánh cá chuẩn bị đánh bắt vụ xuân, đó là vụ cá đù vàng bé.
Cũng có rất nhiều thuyền đánh cá đến Hải Phổ. Và việc đầu tiên họ làm là hỏi xem tiệm cơm Bốn mùa tươi ngon ở đâu. Họ cũng muốn tới đó ăn khiến con phố ở đầu cảng cá vốn rộng rãi cũng chen đầy, phải có tiểu lại tới duy trì trật tự.
Có dòng khách khổng lồ ấy khiến Giang Doanh Tri vừa vui vừa buồn. Buồn vì tiệm cơm không đủ lớn mà người tới ăn lại cực kỳ nhiều. Như thế vừa gây phiền cho dân vừa ầm ĩ cãi cọ nhiều hơn trước.
Mỗi ngày cô đều phải trấn an mọi người, cũng thường xuyên bị đau đầu, ù tai.
Còn vui là vì cô đã kiếm đủ tiền để phủ kín người. Mỗi ngày chỉ đếm tiền đã phải dành thật lâu sau đó đổi thành một xấp ngân phiếu thật dày.
Năm ngoái cô vừa mở rộng mặt tiền của tiệm cơm là đã nảy ra kế hoạch mới. Diện tích hiện tại hoàn toàn không đủ đáp ứng số lượng khách hiện tại nên phải mở rộng thêm. Nhưng hai cửa hàng bên cạnh đều nhỏ, dù có đập thông cũng chỉ thêm được mấy chục người. Tiệm cá đối diện thì không đời nào chịu bán cho cô. Trước kia cô từng nghĩ tới chuyện dời vào trong trấn nhưng giờ thì không thể rời đi nữa — nơi này chính là địa bàn của cô.
“Đi,” Giang Doanh Tri đáp rất dứt khoát.
Lúc thấy mùa xuân của Hải Phổ, thấy Vọng Hải xanh đậm, núi xanh, đảo nhỏ rộn ràng, tiếng còi vang vọng của thuyền cá, lá cờ tung bay trên các thuyền và chim biển bay thành đàn, cá heo bơi lượn quanh các đảo nhỏ thì mọi mỏi mệt đều tan biến. Tâm hồn người ta sẽ thêm dạt dào theo sinh cơ.
Đặc biệt khi Giang Doanh Tri đứng trên con thuyền của mình, mặt nhìn biển rộng và đi tới ngư trường của mình, cô cảm thấy rất hạnh phúc. Trần Cường Thắng cầm lái, Hải Oa và Tú Tú cầm giỏ tre, chân đi giày cọ và hứng thú chạy đi nhặt hải sản nhỏ.
Tiểu Mai đứng cạnh mạn thuyền và dũng cảm nói: “Chờ sang năm em cũng muốn mua một con thuyền, bên trên toàn chữ mai. Sau đó con thuyền ấy sẽ giương buồm vào mùa hạ, chuyên đuổi cá mai đồng để chúng tới ngư trường này để nuôi.”
Con bé sinh ra vào mùa cá mai đồng nên mỗi lần nhìn thấy nó là luôn cảm thấy đó là đồng loại của mình.
Chu Xảo Nữ lé mắt nhìn con: “Sao không xuống biển luôn đi, coi như cá đầu đàn.”
“Cái này không ổn,” Giang Doanh Tri nhìn con bé, “Em phải làm thế này: Đến mùa cá em cầm một đống tiền rồi ngồi xổm ở cảng cá, cứ thấy cá mai đồng là mua. Sau đó phóng sinh. Như thế em sẽ là Bồ Tát cá mai đồng.”
Tiểu Mai chỉ chỉ đầu mình, “Em không bị úng nước.”
Hải Oa cười to, “Nhưng khi chị xuống nước miệng sẽ toàn bọt lộc cộc.”
Mọi người nghe thấy lời này thì cười ha ha còn Tiểu Mai thì trợn mắt.
Cả đám đùa giỡn tới tận ngư trường. Diêu Tinh Phổ vào mùa xuân có từng cụm hoa đào trên núi, mùa xanh cũng dạt dào khắp nơi.
Trên bãi biển đầy nghêu sò khắp bãi bởi thủy triều mới rút.
Hải Oa mới vừa xuống đã oa một tiếng và cùng Tú Tú đào con trai.
Trên đá ngầm có một đống ốc biển, cua bò ra từ đó sau đó lại vội rụt đầu. Con trai béo ú ngoi ra khỏi cát không thèm trốn.
Cá thòi lòi nhảy khỏi hố cát khiến nước cũng bắn lên. Nghêu sò thật to nằm trên bờ cát nên họ căn bản không cần phí sức đi tìm. Trên một bãi bùn ở chỗ khác toàn ốc đất đỏ, bề bề thì nhảy trong nước biển.
Mà ngư trường lúc này đúng vào mùa cá đối, tôm he cũng nhiều, cá bò da cũng thường xuyên qua lại. Nếu có thời gian người ta còn có thể tới bãi đá ngầm câu cá mú.
Đến mùa xuân, ngư trường sẽ đến mùa bắt nghêu sò. Bắt mấy thứ đó ở đây rất vui, con nào cũng tươi ngon màu mỡ.
Mọi người đi biển bắt hải sản còn Giang Doanh Tri với Vương Phùng Niên chỉ bắt một lúc là kéo nhau ngồi xuống một tảng đá nhìn mặt biển nơi xa có hải âu bay lượn.
Giang Doanh Tri nhìn biển rồi nhìn con trai trong sọt và nghĩ về thật lâu trước kia. Đó là lúc cô mới tới đây, cũng vào mùa xuân. Vậy là cô đã đi qua bốn mùa của Hải Phổ.
Cô cảm thán và tươi cười nghĩ trong quãng đường này mình đã thu hoạch được tràn đầy, giống như đi bắt hải sản sau con nước lớn.
Cô nhìn mọi người chạy nhảy trên bãi biển bắt bề bề rồi cầm tay Vương Phùng Niên và nói: “Năm ngoái em nói chờ sang năm rồi nói tiếp. Hiện tại đã sang năm rồi nhưng chờ tới hè được không?”
“Được,” Vương Phùng Niên đáp.
Vào giữa hè ở Hải Phổ, tửu lầu của Giang Doanh Tri lại treo bảng hiệu mới, chỉ có tên là cũ —— Bốn mùa tươi ngon.
Ở cảng cá và bến tàu, có những con thuyền đánh cá từ bốn phương, tám hướng. Vừa tới Hải Phổ họ đã thấy bảng hiệu bằng gỗ ở cảng cá.
Nơi đó chỉ hướng tới tiệm cơm.
Nơi đầu tiên họ ghé thăm chính là tiệm cơm nổi danh ấy.
Ai cũng nói phải tới đó ăn một lần.
Rồi đông đi xuân tới, bốn mùa thay phiên, tiệm cơm vẫn ở đó.
Không phụ hải sản, không phụ thức ăn ngon và yêu thương.