Bốn mùa hải sản – Chương 94 (2)

Chương 94 (2)

Tới mùng năm, các cửa hàng đều mở cửa buôn bán.

Giang Doanh Tri nghỉ ngơi mấy ngày và hoàn toàn không muốn đi làm nữa, cũng không muốn mở cửa hàng mà chỉ muốn rúc trong ổ chăn. Nhưng cô không có cách nào bởi có thực khách đã tới tận cửa. Nếu muộn một ngày thì cửa gỗ nhà cô vỡ mất.

Cô mới nghỉ 5 ngày đã bị bắt đi làm.

“Sao mới tí tuổi đã đòi nghỉ ngơi vậy?” có người hò hét, “Cô mà nghỉ thì chúng tôi ăn cái gì? Tôi chỉ được ăn có một bữa tử tế vào đêm giao thừa, còn lại toàn ăn đồ thừa hâm lại.”

“Chứ gì nữa. Có ai ngờ năm ngoái ăn tết tôi còn có thể ăn cá khô hầm thịt 5-6 bữa không vấn đề gì thế mà hiện tại ăn một bữa tôi cũng không nuốt nổi. Trong đầu tôi chỉ có cá nướng, bánh bao, bánh bao gạch cua, xương sườn muối tiêu, a a a, tôi đói muốn điên rồi.”

Giang Doanh Tri bị ồn ào đến đau đầu. Cô chỉ nghe thấy bọn họ chí chóe mãi thế là đành yên lặng vung muôi nấu ăn.

Cô tưởng mùng 5 đã nhiều nhưng không ngờ qua tháng giêng còn đông hơn. Tiệm cơm đón một dòng khách lớn không phải người Hải Phổ. Nhóm người này đến từ khu vực ven biển từ đây tới Minh Phủ. Họ đều hướng tới cảng cá.

Chuyện này phải kể tới sau khi cảng cá được xây dựng.

Hải Phổ có cảng cá nhưng không có bến cho tàu đậu vì thế cần không ít nhân lực vận chuyển qua lại. Con tàu cũng phải đậu ở xa, cực kỳ bất tiện. Đã vậy nơi này còn nhiều quan khẩu, phải nộp nhiều thuế nên ngoài cá đù vàng lớn nhỏ và mùa mực định kỳ thì thuyền hải ngoại tới đây không nhiều.

Nhưng khi quan khẩu lớn nhất bị phá bỏ, người ta không cần nộp quá nhiều thuế nữa, lại có thêm bến tàu thì thuyền từ Minh Phủ tới đây cũng nhiều hơn hẳn.

Và với con người thì đời này quan trọng nhất là ăn uống tiêu tiểu. Bốn việc này còn lớn hơn trời.

Nhưng những người tới Hải Phổ trước kia không quá ấn tượng với đồ ăn ở đây.

“Anh chẳng biết gì,” có thương nhân nói, “Tôi đã tới Hải Phổ nhiều lần nên biết muốn ăn ngon phải tới Tân Phong Lâu và Tứ Hải Trang. Ngoài ra không có chỗ nào ra gì.”

“Chỗ đó là tửu lầu, giá đắt chết đi được,” một người cao gầy mở miệng, “Theo tôi thì Hải Phổ không bằng Minh Phủ. Nơi này nhỏ nên ngoài tửu lầu thì không có tiệm cơm nào ra hồn.”

Hai người vừa trò chuyện vừa xuống thuyền. Dù đói đến run người, không đi được nữa nhưng họ cũng chỉ muốn chọn đại một chỗ ăn cho qua bữa là được chứ không trông mong gì. Nhưng nội dung nói chuyện của họ lại lọt vào tai ngư dân đang buộc dây thuyền thế là người kia cực kỳ không phục. Sau khi buộc xong dây thuyền, anh đi lên gọi hai người nọ.

“Hai vị đã lâu không tới Hải Phổ đúng không?” Ngư dân hỏi.

Thương nhân có vóc dáng cao quay đầu lại nhìn anh và hỏi, “Tụi tôi tới và mùa cá vụ xuân năm ngoái, sao thế?”

“Bảo sao,” ngư dân kia cười ha hả nói, “Hải Phổ bây giờ đã không giống trước kia rồi.”

“Có gì khác? Không phải chỉ thêm một bến tàu thôi hả? Cái khác không nói nhưng riêng việc ăn cơm thì đâu so được với Minh Phủ. Dù so với các đảo khác thì tay nghề của đầu bếp ở đây cũng không thể so được. Có thể ăn no đã không tồi,” thương nhân vóc dáng thấp ghét bỏ mà nói.

Trước kia mà bọn họ nói thế thì người nghe đều mặt đỏ tai hồng và muốn cãi cọ. Có vài người không thể phản bác thì lặng lẽ thừa nhận.

Nhưng ngư dân trước mặt lại không hề giận. Người đi ngang qua cũng đều cười giống như không phải đang nói Hải Phổ bọn họ.

Cái gã thương nhân thấp bé kia bị chọc tức thì cười hỏi, “Sao nào? Lời tôi nói không đúng à?”

“Nay đã khác xưa rồi,” ngư dân kia đáp trả và cao giọng nói, “Tới tiệm cơm Bốn mùa tươi ngon mà xem. Nhưng đó là nếu các anh có thể chen được vào.”

“Hôm qua anh tới tiệm đó ăn cơm hả?” Có người đi ngang qua chỗ ngư dân kia và hỏi đồng bạn của mình, “Sao chen được vào trong rồi mà không gọi tôi hả? Còn không mang phần về cho tôi nữa, tức quá mà!”

“Nếu là chỗ khác thì tôi nhất định gọi anh nhưng chỗ kia là tôi đi ăn mảnh, gọi anh theo làm gì!” Người còn lại rất đúng lý hợp tình đáp.

Mà quan trọng là bọn họ không cãi nhau nữa, và mọi người nghe cũng cảm thấy hợp lý.

Những người này bắt đầu mỗi người một câu làm cho hai thương nhân kia nghệt ra nhìn nhau. Bọn họ cực kỳ bực bội. Chơi trò thần bí gì vậy? Căn bản chưa từng nghe nói tới chỗ kia.

Bọn họ không hỏi được những người ở đây thì tới cảng cá hỏi ngư dân. Thật không ngờ cả đám lập tức nhiệt tình chạy ra nói cho họ.

“Ngay ở phía trước kìa, chỗ người ta chen chúc ấy. Mọi người tới muộn quá rồi, hôm nay chắc chắn không ăn được.”

“Đúng vậy, người ta xếp hàng dài tới đường cái rồi ấy, bên trong chắc chắn không còn chỗ nữa. Ngày mai lại tới đi, trời chưa sáng đã phải xếp hàng thì tới trưa mới có chỗ.”

Hai người kia a một tiếng và căn bản không tin tiệm cơm này lại nấu ăn ngon đến thế. Không chen được vào thì thôi, lên Lí trấn ăn.

Không ngờ tới Lí trấn rồi họ cũng chỉ thấy người trên đường thảo luận về tiệm cơm kia. Nói là ăn cá cuốn ở đó ngon tới độ cả ngày đều thèm.

Đến tiệm cơm rồi họ còn thấy hai tiểu nhị thương lượng xem ai tới tiệm cơm kia xếp hàng. Tiêu nhiều một chút cũng không sao, chỉ cần có thể ăn được món ở đó bán là được.

Từ khi hai người từ cảng cá tới đây tổng cộng khoảng một canh giờ nhưng đã nghe người ta nhắc tên tiệm kia ba mươi mấy lần. Lúc này họ thật sự rất tò mò rồi.

Kết quả xếp hàng cả buổi sáng mới tới lượt khiến lòng họ tràn đầy oán giận. Nhưng trong cơn giận dữ muốn mắng to một câu ấy họ lại ngửi được mùi thơm thế là tức giận tan một nửa.

Lúc hai đĩa đồ ăn nhỏ là cá hun khói và xíu mại phỉ thúy được bưng lên, bản thân họ còn chưa ăn nhưng cơn giận đã tiêu tan.

Thương nhân có vóc dáng thấp nói thầm, “Làm đẹp quá.”

Vừa ăn vào miệng là ông ta đã ngây người sau đó không nói gì mà vội vã gắp xíu mại nhét vào miệng.

Sao lại ngon thế này? Vỏ là màu xanh phỉ thúy, vừa mỏng vừa trong suốt để lộ nhân bên trong là gạo nếp và lạp xưởng, còn có thịt vụn. Nhân kia vừa béo lại không ngấy. Ăn xong một cái đã muốn kẹp hai cái còn lại và bảo vệ chặt chẽ.

Vốn họ còn đang tức giận nhưng hiện tại cơn tức ấy đã bay theo chín tầng mây. Chờ đến lúc ăn cá cuốn thì quả thực cả hai đều hận không thể móc hết tiền của mình cho tiệm cơm này.

Loại cá cuốn này có phần ngoài dùng cá thu băm nhuyễn trộn với tinh bột thành vỏ nên đặc biệt dai. Trước khi chưng người ta sẽ cuốn trứng gà, hành lá, và củ mã thầy. Bên ngoài còn bọc một tầng mỡ lợn. Sau khi chưng chín thì cá keo lại khiến vỏ dai giòn, mỡ lợn mềm ngậy ngon miệng.

“Lần trước anh nói gì?” Kẻ cao hơn hỏi.

Kẻ thấp hơn từ mắng bản thân mình rồi nói: “Tôi nói nơi này thật thần kỳ, ăn ngon không tả được.”

Không chỉ có hai kẻ kia như thế mà phàm là người nào lúc trước ghét bỏ thì một khi vào tiệm là sẽ thay đổi sắc mặt. Tất cả đều vui vẻ đi ra.

Lời đồn cứ thế lan xa, một truyền mười, mười truyền trăm, chỉ cần là người từ bên ngoài tới Hải Phổ thì nơi đầu tiên được đề cử chính là tiệm cơm Bốn mùa tươi ngon.

Danh tiếng của tiệm dần được mọi người lan truyền ra ngoài. Đến đầu xuân, tuy biển vẫn lạnh lẽo nhưng đã có rất nhiều thuyền đánh cá chuẩn bị đánh bắt vụ xuân, đó là vụ cá đù vàng bé.

Cũng có rất nhiều thuyền đánh cá đến Hải Phổ. Và việc đầu tiên họ làm là hỏi xem tiệm cơm Bốn mùa tươi ngon ở đâu. Họ cũng muốn tới đó ăn khiến con phố ở đầu cảng cá vốn rộng rãi cũng chen đầy, phải có tiểu lại tới duy trì trật tự.

Có dòng khách khổng lồ ấy khiến Giang Doanh Tri vừa vui vừa buồn. Buồn vì tiệm cơm không đủ lớn mà người tới ăn lại cực kỳ nhiều. Như thế vừa gây phiền cho dân vừa ầm ĩ cãi cọ nhiều hơn trước.

Mỗi ngày cô đều phải trấn an mọi người, cũng thường xuyên bị đau đầu, ù tai.

Còn vui là vì cô đã kiếm đủ tiền để phủ kín người. Mỗi ngày chỉ đếm tiền đã phải dành thật lâu sau đó đổi thành một xấp ngân phiếu thật dày.

Năm ngoái cô vừa mở rộng mặt tiền của tiệm cơm là đã nảy ra kế hoạch mới. Diện tích hiện tại hoàn toàn không đủ đáp ứng số lượng khách hiện tại nên phải mở rộng thêm. Nhưng hai cửa hàng bên cạnh đều nhỏ, dù có đập thông cũng chỉ thêm được mấy chục người. Tiệm cá đối diện thì không đời nào chịu bán cho cô. Trước kia cô từng nghĩ tới chuyện dời vào trong trấn nhưng giờ thì không thể rời đi nữa — nơi này chính là địa bàn của cô.

Suốt một ngày ngồi vẽ vời tính toán khiến cô buồn đến mức chẳng buồn ăn cơm. Chu Xảo Nữ và Tiểu Mai cũng chẳng giúp được gì.

“Sao thế?” Vương Phùng Niên mang theo phong trần mệt mỏi bước vào. Anh vừa từ bãi gỗ trở về thay quần áo xong mới qua đây.

Giang Doanh Tri nhìn thấy anh thì mắt sáng lên. Đúng lúc đang thiếu một người để bàn bạc nên cô nói luôn: “Anh mau tới nghĩ giúp em xem rốt cuộc nên mua dãy trước hay mua tửu lâu bỏ hoang ở sau? Mua phía trước thì vẫn hơi nhỏ, phía sau thì hơi xa một chút nhưng tòa nhà ấy rất lớn, là kiểu có tầng lầu và hành lang chạy vòng. Trên lầu có một vòng hành lang bao quanh, dưới lầu cũng rộng. Anh thấy sao?”

“Nếu là anh,” Vương Phùng Niên nói, “thì mua hết.”

Giang Doanh Tri liếc anh một cái: “Cao giọng nhỉ?”

“Tiền của anh đều là của em.” Vương Phùng Niên vỗ vai cô: “Vì thế em có thể vung tay quá trán cũng được.”

“Ví dụ như mua luôn mười tửu lầu trong trấn?”

Vương Phùng Niên xoa đầu cô và an ủi: “Tiểu Mãn, đừng sợ, anh sẽ ở phía sau chống đỡ cho em.”

Giang Doanh Tri ngồi xếp bằng và thở phào một hơi rồi hỏi: “Anh bận không?”

“Cũng tạm. Gần đây anh cho người đi bắt cá đù vàng nhỏ với cá chim rồi.” Vương Phùng Niên ngồi xuống và nói rõ với cô.

Giang Doanh Tri “ừm” một tiếng và không nói thêm. Sau khi đính hôn còn một việc nữa gọi là “nhận thân”, tức là lần đầu con rể tương lai chính thức đến nhà ra mắt.

Vương Phùng Niên cảm thấy sính lễ mình tặng lần trước chưa đủ. Theo lệ thường thì ngoài rượu thịt còn phải tặng một gánh cá đù vàng nhỏ và một gánh cá chim. Cá đù vàng tượng trưng cho may mắn, cá chim tượng trưng cho cả nhà đoàn viên.

Trước kia anh cũng không kính sợ Hải Thần lắm nhưng giờ lại tin những điều kiêng kị ấy. Vì thế anh cho người ra ngư trường tốt nhất đánh bắt vì sợ hôn lễ không thuận lợi.

Trước đây anh không sợ gì, còn bây giờ cái gì cũng sợ.

Dù sao thì hôn lễ cũng đã được định vào mùa thu, lúc không nóng không lạnh. Từ giờ tới lúc ấy còn cách nửa năm nữa, thật sự quá dài.

Giang Doanh Tri cười: “Nhát gan thế.”

“Em thì quả thực to gan.” Vương Phùng Niên vén mấy sợi tóc lòa xòa bên tai cô, ngón tay chỉ vào tờ giấy: “Bất kể là cửa tiệm hay tửu lầu, chỉ cần em muốn thì cứ mua.”

Giọng anh trầm xuống: “Việc làm ăn với sở quan cũng thế, muốn làm thì làm, không muốn thì từ chối. Ông ta sẽ không làm khó em đâu. Đừng nhíu mày nữa.”

Giang Doanh Tri tựa đầu lên vai anh và khẽ gật. Thật ra áp lực quả thật rất lớn nên có lúc cô cũng lo mình không làm đủ tốt.

Khi bước chân ngày một dài hơn thì chỉ một sơ suất nhỏ cũng khiến người ta run sợ. Cô nhận được rất nhiều lời khen, nhưng cũng bị không ít cảm xúc tiêu cực của người khác làm phiền.

Ban đêm cũng khó ngủ trọn giấc. Được bao nhiêu thì cũng phải gánh bấy nhiêu.

Vương Phùng Niên ôm cô vào lòng và nhẹ giọng an ủi: “Em tên là Tiểu Mãn, đâu phải Đại Mãn. Đại Mãn mới phải lo, cái gì cũng phải lớn, phải đủ nhiều mới thấy tốt. Còn Tiểu Mãn của chúng ta chính là nhỏ mà đầy.”

Khi ông bà ngoại đặt tên cho cô là mong cô biết đủ mà vui.

“Vào tiết Tiểu Mãn, nước dâng sẽ tưới mát muôn nơi còn Đại Mãn lại quá nhiều nước nên cuốn trôi tất cả. Thế nên, bây giờ cũng là tốt rồi.”

Giang Doanh Tri nghe thế thì lòng khẽ rung động và hít hít mũi: “Anh học ở đâu ra thế? Miệng ngọt ghê.”

“Vui hơn chưa?” Vương Phùng Niên nói. “Nếu vẫn còn lo lắng… Thì chúng ta đi ngắm biển đi.”

Họ đi ngắm biển mùa xuân, nhìn thuyền mùa đông cập bến, thuyền mùa xuân ra khơi. Vạn thuyền cùng xuất phát, thuận lợi giao nhau. Sau đó ngắm ngắm bầu trời xanh ngắt, biển sâu và rộng.

Giang Doanh Tri quả thật quên hết phiền não.

Cô đứng ở đuôi thuyền đón gió biển và kiên định nói: “Em muốn làm lớn hơn một chút.”

Muốn đi xa hơn một chút.

Vương Phùng Niên mới trở về, trên tay là một con diều viết “bốn mùa tươi ngon”.

Anh đặt diều vào tay Giang Doanh Tri: “Thả đi.”

Giang Doanh Tri hơi ngơ ngác nhưng vẫn thả dây thế là con diều theo gió biển từ từ bay lên, càng lúc càng cao.

Vương Phùng Niên nhìn cô nói: “Em xem đi, đi xa lắm đó nhưng dây vẫn trong tay em. Nên em cứ mạnh dạn làm đi.”

Giang Doanh Tri nhìn con diều bay cao như đang nhìn một phiên bản khác của chính mình. Cô thực sự đã có dũng khí lớn hơn. Thay vì dò dẫm từng bước thì chẳng bằng cho mình một cơ hội buông tay đánh cược một phen.

Không thể lùi bước.

Thế là cô bắt đầu thương lượng với hai cửa tiệm bên cạnh. Điều kiện không dễ bàn bởi hai nhà ấy vốn đã thèm thuồng lượng khách của cô. Chỉ “ăn ké” chút cũng đã kiếm được không ít. Muốn họ dễ dàng nhường lại là chuyện không thể. Hai bên liên kết với nhau và hét giá rất cao.

Một tiệm nhỏ cùng lắm thì hai trăm lượng nhưng họ đòi đến bảy trăm lượng. Vốn cả hai định đòi tám trăm nhưng nể mặt cô nên mới bớt cho một trăm.

Bọn họ cậy vào việc không có hai nhà ấy thì Giang Doanh Tri khó mà mở rộng nên mới kiêu căng thế. Bên trái là tường, bên phải ngoài hai tiệm của họ thì phía trước là một cửa hiệu mấy chục năm chuyên bán đồ chế biến từ cá và tuyệt đối không thể bán cho cô. Trừ phi cô mở ra phía đầu cảng cá. Nhưng phần lớn chỗ đó là nơi ngư dân ở, muốn mở quán ăn còn phải tốn nhiều tiền hơn.

Giang Doanh Tri ghét nhất loại người “cháy nhà hôi của” nên chẳng thèm mặc cả đã quay đầu bỏ đi.

Cô không tin không có hai cửa hiệu ấy thì mình không thể mở rộng được.

Nhưng mọi việc quả thực phiền, thậm chí cô còn nảy ra ý nghĩ đập tường. Nếu bên kia tường không phải vẫn là tường thì cô thật sự muốn làm vậy.

Cô đi dạo một vòng sau phố. Tửu lâu cũ có lầu hai và hành lang vòng, chỗ ăn uống cũng rất rộng. Nhưng nếu không mua hai cửa tiệm phía trước thì cô phải mua hai sân lớn phía sau mới đục thông sang được. (Hãy đọc thử truyện Con đường thi cử thời cổ đại của trang RHP) Vì hai cái sân này lớn, lại có cửa sổ đá chạm hoa, cổng nguyệt động nên giá chắc chắn còn cao hơn tám trăm lượng. Cộng thêm cả tửu lầu thì số tiền trong tay cô gần như chẳng còn bao nhiêu. Cô còn phải sửa sang trang trí nên trong thời gian ngắn tiền bạc chắc chắn sẽ eo hẹp. Việc bảo dưỡng ngư trường, thuyền cá cũng là một khoản chi không nhỏ.

Do dự hai ngày, cuối cùng Giang Doanh Tri gọi người của nha môn tới mua luôn mấy cái sân phía sau và tòa tửu lầu. Đứng trước dãy nhà liền nhau ấy rồi nhìn khế đất trong tay thế là lòng cô dâng lên bao cảm thán. Cũng dâng lên một nguồn sức mạnh vô hạn.

Chính nguồn sức mạnh ấy khiến cô phớt lờ những lời gièm pha của hai cửa tiệm bên cạnh, cũng chẳng để tâm việc họ bỏ bán đồ khô mà tự mở quán ăn cạnh tranh.

Cô hoàn toàn không đáp lại. Chỉ thế thôi cũng đủ làm mấy người kia tức đến nghẹn họng. Quán ăn họ mở ra nhanh chóng bị người ta chặn cửa mắng chửi vì nấu dở. Vừa mở cửa đã bị chửi, náo loạn đến mức không buôn bán nổi.

Về sau họ lại tìm Giang Doanh Tri xin bán cửa tiệm nhưng cô không hề do dự đã từ chối. Ai thích mua thì mua.

Cô bận rộn làm ăn. Mua được dãy nhà phía sau rồi nên cô lập tức đủ đủ tự tin để nhận lời sở quan.

Nhưng chuyện ấy có hiệu quả chậm. Nói là kéo khách nhưng rốt cuộc có kéo được bao nhiêu cũng khó nói. Giang Doanh Tri cũng không để tâm.

Cô phải lo việc trước mắt là giám sát sửa sang, cố gắng làm cho quy mô trông thật lớn.

Ngoài ra, cô cũng bắt đầu tuyển người.

Trước kia tuyển người toàn do người quen giới thiệu nhưng hiện tại không được. Cô cần tuyển rất nhiều người: phụ việc, chạy bàn, tiểu nhị, đầu bếp nữ, người lau dọn, người vận chuyển cá, riêng rửa bát đã phải tuyển sáu người, người chuyên nhóm lửa cần tới hai mươi người.

Thông báo tuyển người vừa dán ra đã khiến người qua đường sững sờ. Chưa từng thấy chỗ nào tuyển mà rầm rộ như vậy — một lúc cần sáu bảy chục người.

Giang Doanh Tri nói: “Không còn cách nào. Chỗ rộng thì người phải nhiều. Mọi người giới thiệu giúp tôi nhé, phải là người nhanh nhẹn chịu khó đấy.”

“Còn cần chúng tôi giới thiệu sao? Ai mà chẳng muốn vào chỗ cô làm.” Một người phụ nữ chỉ vào mình. “Cô xem tôi thế nào? Tôi nhóm lửa giỏi lắm, sức cũng khỏe, hai gánh củi không thành vấn đề.”

Bà ta hạ giọng: “Tôi còn rẻ hơn họ.”

Giang Doanh Tri dở khóc dở cười.

Thực ra từ khi dán thông báo tuyển người đã có bao nhiêu người kéo tới. Dù không nhìn biển hiệu của tiệm thì chỉ nghe điều kiện đã đủ hấp dẫn rồi: một ngày hai trăm xu, bao ba bữa ăn, ban ngày làm bốn canh giờ; nếu phải làm ban đêm thì chiều mới đến. Lễ tết đều có quà năm mới, đi làm có đồng phục riêng, còn may quần áo bốn mùa, sinh nhật có quà, lại được nghỉ một ngày vẫn có tiền.

Chưa kể những người đến ứng tuyển còn tự quảng cáo: “Con gái của đứa cháu họ nhà tôi cũng làm ở đây, trời ơi ăn uống tốt lắm, còn có đầu bếp riêng nấu cho họ, ngày nào cũng đổi món.”

“Con bé họ hàng nhà tôi trước gầy tong teo, cánh tay như cọng cải dầu, lần trước gặp lại thấy mặt mũi tròn vo, nhìn là biết được ăn uống đủ đầy.”

“Tôi muốn đến từ lâu rồi, thèm lắm mà không được, vì trước đây chỗ này không tuyển. Lần này đúng là gặp may.”

Đám người ấy ai nấy thi nhau khoe bản lĩnh, nói với Giang Doanh Tri đủ thứ kỹ năng: từ biết câu cá, hầm cá khô dày đến mềm nhừ, mùa đông không sợ lạnh, rửa gì cũng giỏi cho đến có thể tay không mổ cá, mặt không đổi sắc mà rửa lòng heo.

Bao nhiêu tài lẻ lộn xộn, nghe đến mức Giang Doanh Tri và Tiểu Mai đau cả đầu.

Chỉ riêng việc tuyển người đã mất gần nửa tháng mới xong. Người tốt kẻ kém lẫn lộn, tuyển xong còn phải tìm người kèm cặp, dạy cho rõ việc rồi mới tính tiếp.

Ngoài ra, Giang Doanh Tri còn phải bận rộn trông coi sửa sang, đúng là ngày đêm đảo lộn.

Đúng lúc tiết trời xuân nóng lạnh thất thường nên cô bị nhiễm lạnh phát sốt, hắt hơi liên tục.

Chu Xảo Nữ trách: “Cháu bận tới mức chẳng biết nghỉ là gì. Giờ thì ốm rồi, không nghỉ cũng phải nghỉ.”

Rồi lại xót xa: “Đợi xong việc này thật sự phải bớt bớt việc đi. Nhìn lại mình xem, bao nhiêu canh bổ uống vào mà càng bổ lại càng gầy.”

Dạo này Giang Doanh Tri quá bận mà Chu Xảo Nữ không giúp được bao nhiêu nên vội chạy sang hàng thực phẩm hỏi han người ta xem ăn gì để bồi bổ thì tốt.

Sau khi học xong bà sẽ nấu sẵn ở Tây Đường Quan rồi đợi trưa mang một phần cho Giang Doanh Tri, một phần cho Tiểu Mai, miệng thì bảo mình không cần bồi bổ nhiều.

Giang Doanh Tri nghe bà nói vậy chỉ cười và tựa đầu lên vai bà ngửi mùi thuốc thoang thoảng rồi thiếp đi.

Đợi Giang Doanh Tri khỏi bệnh là Vương Phùng Niên lập tức kéo cô đi và nói: “Ra biển đi, đến ngư trường xem thử.”

“Đi,” Giang Doanh Tri đáp rất dứt khoát.

Lúc thấy mùa xuân của Hải Phổ, thấy Vọng Hải xanh đậm, núi xanh, đảo nhỏ rộn ràng, tiếng còi vang vọng của thuyền cá, lá cờ tung bay trên các thuyền và chim biển bay thành đàn, cá heo bơi lượn quanh các đảo nhỏ thì mọi mỏi mệt đều tan biến. Tâm hồn người ta sẽ thêm dạt dào theo sinh cơ.

Đặc biệt khi Giang Doanh Tri đứng trên con thuyền của mình, mặt nhìn biển rộng và đi tới ngư trường của mình, cô cảm thấy rất hạnh phúc. Trần Cường Thắng cầm lái, Hải Oa và Tú Tú cầm giỏ tre, chân đi giày cọ và hứng thú chạy đi nhặt hải sản nhỏ.

Tiểu Mai đứng cạnh mạn thuyền và dũng cảm nói: “Chờ sang năm em cũng muốn mua một con thuyền, bên trên toàn chữ mai. Sau đó con thuyền ấy sẽ giương buồm vào mùa hạ, chuyên đuổi cá mai đồng để chúng tới ngư trường này để nuôi.”

Con bé sinh ra vào mùa cá mai đồng nên mỗi lần nhìn thấy nó là luôn cảm thấy đó là đồng loại của mình.

Chu Xảo Nữ lé mắt nhìn con: “Sao không xuống biển luôn đi, coi như cá đầu đàn.”

“Cái này không ổn,” Giang Doanh Tri nhìn con bé, “Em phải làm thế này: Đến mùa cá em cầm một đống tiền rồi ngồi xổm ở cảng cá, cứ thấy cá mai đồng là mua. Sau đó phóng sinh. Như thế em sẽ là Bồ Tát cá mai đồng.”

Tiểu Mai chỉ chỉ đầu mình, “Em không bị úng nước.”

Hải Oa cười to, “Nhưng khi chị xuống nước miệng sẽ toàn bọt lộc cộc.”

Mọi người nghe thấy lời này thì cười ha ha còn Tiểu Mai thì trợn mắt.

Cả đám đùa giỡn tới tận ngư trường. Diêu Tinh Phổ vào mùa xuân có từng cụm hoa đào trên núi, mùa xanh cũng dạt dào khắp nơi.

Trên bãi biển đầy nghêu sò khắp bãi bởi thủy triều mới rút.

Hải Oa mới vừa xuống đã oa một tiếng và cùng Tú Tú đào con trai.

Trên đá ngầm có một đống ốc biển, cua bò ra từ đó sau đó lại vội rụt đầu. Con trai béo ú ngoi ra khỏi cát không thèm trốn.

Cá thòi lòi nhảy khỏi hố cát khiến nước cũng bắn lên. Nghêu sò thật to nằm trên bờ cát nên họ căn bản không cần phí sức đi tìm. Trên một bãi bùn ở chỗ khác toàn ốc đất đỏ, bề bề thì nhảy trong nước biển.

Mà ngư trường lúc này đúng vào mùa cá đối, tôm he cũng nhiều, cá bò da cũng thường xuyên qua lại. Nếu có thời gian người ta còn có thể tới bãi đá ngầm câu cá mú.

Đến mùa xuân, ngư trường sẽ đến mùa bắt nghêu sò. Bắt mấy thứ đó ở đây rất vui, con nào cũng tươi ngon màu mỡ.

Mọi người đi biển bắt hải sản còn Giang Doanh Tri với Vương Phùng Niên chỉ bắt một lúc là kéo nhau ngồi xuống một tảng đá nhìn mặt biển nơi xa có hải âu bay lượn.

Giang Doanh Tri nhìn biển rồi nhìn con trai trong sọt và nghĩ về thật lâu trước kia. Đó là lúc cô mới tới đây, cũng vào mùa xuân. Vậy là cô đã đi qua bốn mùa của Hải Phổ.

Cô cảm thán và tươi cười nghĩ trong quãng đường này mình đã thu hoạch được tràn đầy, giống như đi bắt hải sản sau con nước lớn.

Cô nhìn mọi người chạy nhảy trên bãi biển bắt bề bề rồi cầm tay Vương Phùng Niên và nói: “Năm ngoái em nói chờ sang năm rồi nói tiếp. Hiện tại đã sang năm rồi nhưng chờ tới hè được không?”

“Được,” Vương Phùng Niên đáp.

Vào giữa hè ở Hải Phổ, tửu lầu của Giang Doanh Tri lại treo bảng hiệu mới, chỉ có tên là cũ —— Bốn mùa tươi ngon.

Ở cảng cá và bến tàu, có những con thuyền đánh cá từ bốn phương, tám hướng. Vừa tới Hải Phổ họ đã thấy bảng hiệu bằng gỗ ở cảng cá.

Nơi đó chỉ hướng tới tiệm cơm.

Nơi đầu tiên họ ghé thăm chính là tiệm cơm nổi danh ấy.

Ai cũng nói phải tới đó ăn một lần.

Rồi đông đi xuân tới, bốn mùa thay phiên, tiệm cơm vẫn ở đó.

Không phụ hải sản, không phụ thức ăn ngon và yêu thương.

Ủng hộ Rừng Hổ Phách

Mong các bạn ủng hộ để Amber duy trì trang web. Nếu không có Paypal thì có thể:
1. Chuyển khoản tới: Hoang Mai Nhung - 0021002033624 - Vietcombank.
2. Chuyển qua Momo
3. Gửi thẻ cào điện thoại Viettel
Chân thành cảm ơn!

Rừng Hổ Phách

Lịch

Tháng 5 2024
H B T N S B C
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  
DMCA.com Protection Status