Chương 94: Không phụ thức ăn ngon
Đây là cái tết đầu tiên của Giang Doanh Tri ở Hải Phổ.
Cô và Tiểu Mai cùng nhau đặt mua hàng tết như bánh trần bì, táo đỏ, hạt dưa rồi cùng Chu Xảo Nữ cầm gạo nếp được chưng chín tới chỗ khác nhờ người ta làm bánh gạo. Lúc giã, gạo nếp dính lại, và nhân lúc còn nóng người ta sẽ véo một miếng chấm đường mật để ăn.
Dù sao Giang Doanh Tri và Tiểu Mai đều ăn no căng còn Chu Xảo Nữ thì làm mấy thùng bánh gạo to.
Tiểu Mai đứng sau lưng Giang Doanh Tri mà thở ngắn than dài, “Xong rồi, thế này thì ăn đến độ nước cũng nở hoa mới hết.”
Bánh gạo thật đúng là ác mộng của đám trẻ con Hải Phổ. Từ ăn tết ăn đến lúc trời nóng mà bánh gạo vẫn để trong thùng. Nước được thay liên tục còn bánh gạo thì trơn tuột, thiu rồi người ta cũng tiếc không vứt đi.
Giang Doanh Tri chỉ thích bánh gạo mới làm còn nóng hổi, hoặc bánh gạo mới được cắt ra rán, bỏ thêm muối tiêu, hoặc bánh gạo xào cua. Vì thế cô lập mục tiêu trong tháng giêng phải giải quyết hết bánh gạo, tuyệt đối không cho nó cơ hội thiu.
Làm bánh gạo xong Chu Xảo Nữ nói: “Còn phải xào bánh đường.”
Tiểu Mai và Giang Doanh Tri nhìn nhau và yên lặng thở dài.
Đừng tưởng cái món này dùng nguyên liệu ngon lành gì. Nó là khoai lang gọt vỏ, chưng chín rồi xào thành bánh. Nó hơi dính, lại rất ngọt, đã thế còn xào một đống to.
Còn phải làm bỏng gạo. Gạo nếp phồng lên dính vào nhau và giòn vừa ngọt rất ngon. Nhưng Tiểu Mai ăn ba ngày là bốc hỏa, khóe miệng nổi hai cái nhọt to khiến nó đau đến nhe răng nhếch miệng.
Rồi sau đó nó khỏi thì tới lượt Hải Oa. Thằng nhãi con sáng ăn, tối ăn, cứ rảnh là ăn, sau đó đau quá khóc oa oa.
Sau đó nó còn mang đồ ăn tới nghĩa thục chia cho bạn bè thế là cả đám trẻ con đứa nào cũng giống nó, trên môi lốm đốm mấy cái mụn nước đỏ chót.
Hương vị năm mới cứ thế đậm dần lên trong mẻ bánh nếp, bánh rán đường, trong những xâu cá đao phơi gió và lươn khô treo đầy sân.
Thi thoảng Giang Doanh Tri sẽ xuống xưởng cá ở phố Giang Hạ. Dọc theo con phố sẽ thấy tường treo kín lưới đánh cá, trên bờ tường thấp là từng chiếc rá lớn nhỏ phơi tôm vỏ trắng, tôm khô, tôm vỏ đỏ, hải sâm nhỏ, cá khô các loại…
Gió đông thổi qua mang theo mùi biển, lại thêm cái vị mặn tanh nồng hơn hẳn. Trên những cây cột ven đường treo từng chùm cá khô: nào cá đù vàng khô, mực khô, cá đao khô, lươn khô… xen giữa là những con mực ống khô to bản.
Dưới mái hiên lúc nào cũng treo giỏ tre, bên trong đặt bào ngư khô, dưới mái hiên sát tường là la liệt chum vại lớn nhỏ. Chum nhỏ muối cá, chum lớn ngâm cá say rượu.
Hương rượu và vị mặn cứ thế lên men trên cả con phố. Đám phụ nữ thì tất bật, người chuyển muối, người thu lưới, người mài dao xẻ cá khô, người phơi hải sản, người mổ những con cá thu mới bắt về.
Lúc cô tới, cá thu đã chất đầy mấy cái thùng lớn, máu lẫn tuyết tan chảy thành dòng xuống rãnh nhỏ.
Vương Tam Nương mặc áo ngoài màu nâu sậm và đưa một thùng cá cho người phụ nữ bên cạnh sau đó dặn dò vài câu. Thấy Giang Doanh Tri tới là bà nở nụ cười tươi và giơ tay gọi: “Tiểu Mãn lại đây.”
“Chẳng phải cháu vẫn hay đặt đồ ở chỗ này sao?” Vương Tam Nương kéo cô vào góc tường, “Cô đã tìm ông chủ và xin cho cháu ít đồ. Không thể để cháu tốn bao nhiêu tiền như thế mà chẳng có chút lợi nào được.”
Vì thế bà cũng phải dày mặt mà đi xin. Hễ cứ là chuyện dính tới quyền lợi của Giang Doanh Tri là bà sẽ sẵn sàng liều một phen.
Giang Doanh Tri ngạc nhiên: “Cô sợ ông chủ lắm cơ mà?”
“Làm thuê cho người ta thì làm gì có chuyện không sợ,” Vương Tam Nương vừa nói vừa cởi chiếc áo choàng đã thấm ướt, “Nhưng đã muốn lấy chút lợi ích thì không thể không mặt dày được.”
Thật ra ông chủ xưởng cá cũng đã chuẩn bị quà biếu nhưng Vương Tam Nương chê mấy thứ cá khô, hải sản khô đó tầm thường quá và nhất quyết vòi cho bằng được mấy vò cá chép thái lát ngâm rượu.
Bà thấp giọng: “Đồ này chuyển từ miền sông nước phương Nam lên đó, đắt lắm. Người ta gọi là ướp hương, chưa mở vò mà mùi rượu đã thơm nức từ xa.”
Ngửi qua một cái Giang Doanh Tri đã biết mấy vò cá chép ngâm rượu này quả thật có lai lịch. Hương thơm rất đặc biệt, cái mùi rượu ủ lâu năm ấy không hề gắt, ngược lại còn dịu và tinh tế. Loại “cá say rượu” này không phải dùng rượu trắng hay rượu vàng ngâm cá là xong đâu. Người ta phải dùng bã rượu ủ rồi chế biến vì thế vị cay nồng của rượu không nặng, trái lại còn phảng phất chút ngọt.
Cá chép ngâm rượu không được cắt dày như loại cắt khối mà chỉ có một lớp da mỏng, bên dưới là phần thịt hơi ánh đỏ. Thời gian ủ khá lâu nên gắp một cái là thịt tự tách ra, lộ cả xương cá và phần thịt trắng ngà bên trong.
Đúng là “thân trong rượu mà hình không nát” – bên ngoài vẫn giữ nguyên vẹn, nhưng bên trong đã mềm rục từ tận xương. Cá có thể nhai cả xương mà nuốt, mùi thơm của bã rượu quẩn quanh trong khoang miệng.
Giang Doanh Tri rất hài lòng với mấy vò cá này: “Để dành ăn Tết. Cháu cảm ơn cô, nhân tiện nhờ cô chuyển lời giục ông chủ nhanh chóng mang cá thu đã mổ sẵn qua. Cháu còn chờ nấu canh cá đấy.”
“Được, tuyết ngoài đường chưa tan nên phải nhớ đi sát mép đường nhé,” Vương Tam Nương dặn một câu rồi vội đi làm. Cuối năm bận rộn và bà còn khối việc phải lo.
Trong lúc chờ cá thu được mang tới thì Giang Doanh Tri ghé mua của người trồng rau hơn trăm cân cải thảo. Cải mùa đông bị sương giá phủ qua lại được bọc trong chiếu rơm nên tươi rói.
Củ cải trắng cũng vậy. Chúng còn dính đất, lá chưa cắt, xanh ra xanh, trắng ra trắng, nhìn là biết mọng nước.
Cô bảo người bán mang thẳng tới tiệm cơm thế là người kia hỏi: “Tôi cho cô thêm mấy cân cải với củ cải rồi bán cho tôi ít cá hun khói được không? Trẻ con ở nhà thèm lắm mà xếp hàng mãi không tới lượt.”
“Được thôi, coi như trao đổi,” Giang Doanh Tri cười, “Bác đưa cải thảo với củ cải cho cháu còn cháu trả bác cá hun khói. Lúc về bác cứ bảo mình mua là được.”
Người bán rau cũng cười và gật đầu lia lịa. Lúc đổi được cá hun khói, nếp nhăn nơi khóe mắt ông càng sâu, ý cười lan cả lên đuôi mày.
Tiễn ông đi rồi Giang Doanh Tri chỉ vào chỗ mộc nhĩ khô đã ngâm nở thế là người phụ bếp vớt ra thái sợi. Cải thảo và củ cải trắng cũng lần lượt thái sợi.
Cô hòa cả một thùng bột lớn sau đó bọc một lớp mỏng lên từng lát cá thu. Khi mỗi miếng đều phủ lớp bột trong veo thì chảo dầu lớn cũng đã sôi sùng sục. Dầu nóng dần, cá được thả xuống kêu xèo xèo và dần chuyển màu vàng ruộm.
Bên kia, nồi nước dùng ninh từ xương cá, đầu cá, thêm nước mắm, dầu hào… đang sôi ùng ục. Người phụ việc lần lượt thả cải thảo, mộc nhĩ, củ cải thái sợi vào.
Khi cá rán, trứng thái sợi, hành xanh đều cho vào nồi thì bát canh cá thu trở nên đầy đặn hơn nhiều. Lớp vỏ bên ngoài lát cá gặp nước nóng thì trở nên mềm ở bền ngoài nhưng bên trong vẫn xốp giòn. Thịt cá mềm mà không xương, ăn như thịt nạc viên nhưng vị tươi ngon lại nhân đôi.
Mùa đông phải ăn món nóng hổi có nước. Nhất là vào tháng Chạp, gió từ phía biển Vọng Hải thổi ngày thổi đêm. Mặt trời có ló ra thì băng dưới mái hiên cũng chẳng tan, chỉ thỉnh thoảng rơi xuống vỡ tan tành.
Thời tiết lạnh đến mức người ta run cầm cập, gió quất vào mặt nứt nẻ. Gió ở cảng cá lại càng dữ, luồn vào áo quần lạnh buốt.
Vì thế mấy năm trước, nếu không có việc gấp, ai nấy đều co ro trong nhà, chẳng mấy người ra đường. Nhưng từ khi cảng cá có tiệm cơm Bốn mùa tươi ngon thì dù mưa gió tuyết rơi, thậm chí trời đổ cả mưa đá, người ta cũng kiếm một cây ô chắc chắn và đội mưa đá mà đến.
Dù tới nơi ô bị đập thủng lỗ chỗ, rách tươm thì chỉ cần nếm được món ngon là mọi phiền muộn đều tạm gác lại.
Bởi vậy ở Tứ Thời Tiên, phụ bếp với đầu bếp thay ca liên tục, chưa từng đóng cửa một ngày. Mỗi sáng họ đều mở cửa sớm để mọi người bất chấp gió mưa đến ăn.
Hôm nay cũng vậy. Giang Doanh Tri vừa đặt bếp lò ngoài cửa là từng tốp người đã lục tục kéo tới, có người còn chạy khiến tà áo bay tán loạn.
Từ xa đã nghe tiếng gọi: “Tiểu Mãn, hôm nay nấu gì đấy? Để cho tôi một bát! Không, ba bát!”
“Tiểu Mãn nhìn này,” cô gái mập kéo váy, phía sau toàn vết tuyết bẩn, “Tôi vừa ngã vào đống tuyết, đau đến nhe răng nhăn mặt và phải bám tường lết tới đây. Thương tôi chút, cho tôi ăn trước đi.”
“Lại thế nữa rồi,” có người quen miệng chọc.
Giang Doanh Tri che miệng cười nhưng không dám cười to kẻo gió lùa vào miệng. Cô dùng muôi gõ nhẹ vào mép nồi và nín cười, nghiêm túc nói: “Được rồi, hôm nay mời mọi người ăn canh cá thu, ai cũng có phần.”
“Sao lại mời nữa, Tiểu Mãn không định kiếm tiền à?” một bà lão kinh ngạc. Cho mấy trăm người ăn uống miễn phí thế này, ai mà chẳng xót.
Giang Doanh Tri lấy bát, múc một vá đầy ắp đưa cho người bên cạnh và chỉ cười nói: “Mọi người bất chấp mưa gió vẫn tới nên cháu cũng thương chứ. Mau ăn đi cho ấm, như thế mới có sức làm việc. Cuối năm rồi, chúng ta quen nhau lâu thế và mọi người cũng suốt ngày ăn ở quán của cháu nên cháu cũng phải để mọi người có chút lợi ích chứ! Năm sau lại đến ủng hộ nhé.”
“Đừng nói năm sau, ngay cả đêm giao thừa năm nay tôi cũng muốn ăn ở chỗ cô,” có người vừa húp lát cá mềm trơn và thổi phì phì vì bị bỏng vừa kêu to.
Lát cá thu trong bát canh ấy mềm mượt, không phải mỏng dính đến độ chạm môi là tan. Nó có độ dày vừa phải, cắn ra thấy vân thịt trắng như tuyết.
Cải thảo mọng nước, ngay cả phần cùi cũng ngon. Mộc nhĩ giòn rắc rắc, củ cải sợi làm nước canh thêm vị ngọt lạ. Nước dùng ninh từ xương và đầu cá vốn đã có vị tươi ngon nên uống một ngụm nước, ăn một miếng cá là tuyệt vời. Dù đứng giữa gió lạnh cuồn cuộn từ cảng cá thổi tới hay ở ngay đầu sóng dâng người ta vẫn cảm thấy ấm áp lan khắp người.
Đến Tứ Thời Tiên chưa bao giờ uổng công.
Dù đứng giữa con phố gió lùa tứ phía thì ai cũng mãn nguyện ôm bát canh cá ăn.
Nhưng họ vẫn phải càm ràm một câu: “Sao chỉ mở đến trưa ngày 30 thôi? Tối tôi cũng muốn ăn ở chỗ cô mà!”
Giang Doanh Tri cười: “Người nhà tôi cũng đợi tôi về ăn cơm chứ.” Rồi cô nói với mọi người: “Nhưng tôi đã chuẩn bị cho mọi người bộ ba món Tết của Hải Phố rồi.”
“Ba món gì mà nghe tên lạ thế.”
“Là thịt viên, cá hun khói với há cảo trứng đó,” Giang Doanh Tri nhìn như muốn nói: Sao anh lại không hiểu tôi vậy?
Bộ ba món tết của Hải Phố: Thịt viên tượng trưng đoàn viên, há cảo trứng giống thỏi vàng, còn cá hun khói mang ý nghĩa “năm nào cũng dư dả” nên thiếu một món cũng không được.
Thịt viên Giang Doanh Tri làm khác hẳn nhà người ta. Người khác dùng dao băm thành thịt nhuyễn, còn cô chọn thịt nạc tinh, dùng chày đập. Thịt dưới lực đập dần tơi ra, rồi nhờ tinh bột kết dính mà từ từ săn chắc lại. Khi thả vào nồi nước sôi, từng viên thịt phồng lên, dai giòn, mọng nước mà vẫn có độ đàn hồi.
Còn há cảo trứng thì có lớp vỏ vàng óng, tròn tròn mỏng mỏng, rán lên ánh màu caramel nhạt, ôm lấy nhân thịt lợn. Mỗi chiếc mỏng hai bên còn ở giữa phồng lên.
Mang hai thứ này đi nấu canh, vừa thả vào nồi rồi đợi há cảo hút no nước dùng là được. Lúc cắn nửa cái sẽ thấy nước trong nhân thịt trào ra, chảy thẳng vào miệng.
Nếu thêm nấm, giăm bông, cá viên, rau xanh nữa thì được một nồi canh tam tiên đủ làm người ta ăn đến toát mồ hôi, ấm từ trong ra ngoài.
Trong tiệm cơm có một hàng nồi đất bày kín canh há cảo trứng tam tiên, bên cạnh là mấy thùng lớn đựng thịt viên. Người làm quăng thẻ vào hũ và vừa bưng nồi đất vừa gọi với: “Mau lấy thêm một đĩa cá hun khói!”
Mọi người vừa ăn cá hun khói, vừa gắp một viên thịt, lại húp bát canh há cảo trứng – vị Tết và không khí náo nhiệt đến sớm và dồn cả vào tiệm cơm này.
Ngoài quán, tuyết dần tan và tháng Chạp cũng đi đến cuối.
Cuối năm là lúc bận rộn nhất. Tiền trang thu nợ, hàng cá bắt đầu tìm thương lái cá ướp đá, bàn chuyện hợp tác vụ xuân, ngư dân thì hoặc vay tiền hoặc đòi nợ – ải cuối năm không dễ vượt.
Giang Doanh Tri bận đến chân không chạm đất, Vương Phùng Niên cũng vậy. Sổ sách, thuế má, doanh thu – xoay vòng khắp nơi.
Giữa guồng quay bận rộn ấy, hai người vẫn cố rút ra chút thời gian để gặp nhau.
Chiều đó hẹn gặp nên Giang Doanh Tri đề nghị: “Làm bánh nếp viên nhé. Em ăn ngọt, nhân hoa quế với đường hoa hồng, lăn bột đậu nành. Anh ăn mặn, nhân dưa muối, măng mùa đông, nấm hương.”
“Em không mệt sao?” Vương Phùng Niên không đồng ý và nắm lấy tay cô. “Muốn ăn bánh nếp viên thì ra ngoài ăn.”
Anh khẽ nhíu mày và cố nhớ lại mấy quầy hàng cũng như đủ loại nhân đã từng nghe qua, nhiều quá nhớ không xuể nên đành nói: “Bên đó hình như còn có nhân hạt dưa với sợi quất vàng… Ừm, trộn vừng đen, em ăn không?”
Giang Doanh Tri nhìn anh, mắt mở to sau đó cô xoa mặt mình lẩm bẩm: “Sợi quất vàng với mấy sợi đỏ xanh giống nhau thôi…”
Cô không thích ăn.
Cuối cùng hai người rời Hải Phố sang một hòn đảo nhỏ ăn. Ngoài bánh nếp viên còn ăn cả bánh củ cải. Củ cải trắng ở đó đặc biệt non, bào sợi làm nhân thì vừa mọng nước vừa tươi ngọt.
Nhân không chỉ có củ cải, mà còn thêm hàu, măng mùa đông, tôm khô. (Truyện này của trang runghophach.com) Giang Doanh Tri rất thích cảm giác những con hàu nhỏ li ti – mềm mà dai, măng giòn sần sật – tất cả gói trong viên bánh tròn trịa.
Ăn xong họ lên ngọn hải đăng. Hòn đảo nhỏ ở cửa biển ấy có một ngọn hải đăng rất cao, có người chuyên thắp đèn, đêm xuống phải châm sáng lồng đèn để chỉ hướng cho thuyền cá qua lại.
Giang Doanh Tri đứng trên cao, nhìn ra biển mênh mang, chờ mặt trời lặn, trăng lên, ánh đèn bừng sáng.
“Lại một năm nữa sắp qua rồi,” cô khẽ nói.
Vương Phùng Niên nghiêng đầu nhìn cô. Trong tầm mắt anh lúc ấy không còn biển, chỉ có cô.
“Lại một năm,” anh nói, “Anh vẫn chờ năm sau.”
Chưa bao giờ anh mong năm sau đến thế.
Tai Giang Doanh Tri nóng lên, ửng hồng. Cô từng nói sang năm rồi hãy bàn chuyện tương lai – tức là bàn chuyện cưới xin.
Cô cũng nhìn Vương Phùng Niên. Từ khi gầy đi, gương mặt anh càng thêm rắn rỏi, đường nét đúng gu thẩm mỹ của cô. Nhưng hơn cả là rung động. Những rung động như con nước nhỏ của thủy triều lúc mới lên, tựa sóng biển chậm rãi dâng trào, rồi lại như cuộn trào nuốt chửng cả ghềnh đá.
Cô chưa từng trải qua cảm giác yêu người khác như thế này. Nó giống chèo thuyền – mỗi nhịp chèo đều mạnh mẽ, hướng về nơi mình muốn đến.
Khi được yêu là sẽ nhớ tới một khoảnh khắc nào đó. Nhớ những gì tốt đẹp anh có, cảm nhận được sự thiên vị và dịu dàng không hề giấu diếm – như bước trên bãi biển giữa mùa hè, mỗi bước đều nóng bỏng.
Trong rất nhiều khoảnh khắc, Giang Doanh Tri thực sự từng nghĩ đến tương lai – có thể ở bên nhau thật lâu.
Rung động là nhất thời, nhưng sự thoải mái và hòa hợp khi ở bên nhau mới là lâu dài.
Cô đưa tay ra thế là Vương Phùng Niên cúi đầu nắm lấy.
Giang Doanh Tri cảm nhận hơi ấm trong lòng bàn tay. Cô nhìn ra biển: “Anh thấy biển không?”
“Thấy.”
“Em thích biển lắm. Hai mươi mấy năm nhìn mà chưa từng chán,” cô cười, tay kia chỉ ra xa. “Trước đây em từng nghĩ, cứ ở bên biển cả đời là được.”
Vương Phùng Niên không để ý chuyện tuổi tác của cô, chỉ hỏi: “Bây giờ thì sao?”
Anh còn nhấn mạnh: “Biển lạnh lắm, nước biển mặn. Anh thì không.”
Giang Doanh Tri “ồ” một tiếng, nhướng mày: “Bây giờ à… em thấy nên tìm một người nhìn năm sáu chục năm cũng không chán.”
“Anh sẽ không để em chán đâu,” Vương Phùng Niên nói.
Giang Doanh Tri lắc đầu. Chuyện này ai nói trước được.
Nhưng anh lại nói tiếp: “Đợi đến lúc em chán, anh sẽ bịt mắt em lại, vậy là em không nhìn thấy anh nữa.”
Cô bật cười: “Cái gì thế? Sao không bịt mắt anh?”
Anh rất chi là vô tội: “Anh sẽ không chán.”
“Thôi ngay, không cho anh nói nữa.”
“Giờ đã chán anh rồi à?” Vương Phùng Niên còn bày cách: “Lần sau thấy anh phiền, em có thể tìm anh gây chuyện.”
“Gây chuyện gì?”
Anh đáp tỉnh bơ: “Đóng cửa thả chó.”
Thực ra anh không thích chó, nhất là chuyện rụng lông.
Giang Doanh Tri cười nghiêng ngả: “Không, em sẽ cho anh ăn đồ muối có mùi rất thối.”
“Đổi cái khác.”
“Không thể.”
Hai người cãi vã lặt vặt, còn lồng đèn trên hải đăng lần lượt sáng lên, tỏa ánh vàng mờ ấm áp.